The World Of Entertainment

WellCome To Light Heart The World Of Entertainment
 
IndexIndex  Trợ giúpTrợ giúp  Tìm kiếmTìm kiếm  Thành viênThành viên  NhómNhóm  Đăng kýĐăng ký  Đăng Nhập  

Share | 
 

 Học PHP Toàn Tập

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Tác giảThông điệp
soledad
Admin


Nam Tổng số bài gửi : 60
Age : 27
Registration date : 18/10/2008

Bài gửiTiêu đề: Học PHP Toàn Tập   Sun Oct 26, 2008 8:48 am

Bài 1: Những khái niệm căn bản về mạng máy tính


Mục đích và yêu cầu:
- Nắm được các khái niệm cơ bản nhất về mạng máy tính.
- Biết cách cài đặt giao thức TCP/IP và web server.
I. Khái niệm cơ bản:
1. Mạng máy tính: Là 2 hay nhiều máy tính được kết nối với nhau.
2. Máy chủ - Máy khách:

Trong mạng máy tính, máy chủ (hay còn gọi là server) là một máy tính được sử dụng để các máy tính khác truy cập. Các máy tính truy cập vào 1 máy chủ được gọi là máy khách.

Như vậy, 1 máy tính trong mạng có thể vừa là 1 máy chủ (khi có máy khác truy cập đến nó), vừa là một máy khách (nếu nó truy cập đến một máy tính khác). Vì vậy đừng nên nghĩ rằng máy chủ là 1 cái gì đó cao siêu cho mệt óc

3. Giao thức mạng:

Các máy tính trên mạng "nói chuyện" với nhau thông qua một ngôn ngữ đặc biệt gọi là các giao thức mạng. Có rất nhiều giao thức khác nhau, mỗi giao thức có 1 nhiệm vụ riêng. Ở đây tôi tạm chia ra làm 2 nhóm giao thức:
- Giao thức truyền dữ liệu, chuyên dùng để vận chuyển dữ liệu giữa 2 máy tính.
- Giao thức xử lý dữ liệu, có nhiệm vụ xử lý dữ liệu nhận được từ giao thức truyền dữ liệu

Túm lại: Không nên phát hoảng khi nghe thấy 2 từ giao thức. Chẳng qua nó chỉ là 1 dạng ngôn ngữ để trao đổi với nhau mà thôi. Và bạn cứ yên chí rằng nếu thích, bạn có thể tự định nghĩa ra một cái giao thức nào đó. Chẳng hạn như các chương trình chat của Yahoo, hay các chương trình remote trojan… Chúng tự đẻ ra các giao thức riêng dựa trên nền giao thức TCP/IP đấy.

4. Chùm giao thức TCP/IP

Giao thức TCP/IP là 1 giao thức được sử dụng để truyền dữ liệu giữa 2 máy tính. Theo giao thức này, mỗi máy tính sẽ có 1 địa chỉ xác định trên mạng gọi là địa chỉ IP. Địa chỉ IP là một cụm chữ số có dạng a.b.c.d (a,b,c,d là các số từ 0 đến 255). VD: 174.178.0.1.

Giao thức TCP/IP chỉ có nhiệm vụ duy nhất là truyền dữ liệu giữa 2 máy tính và đảm bảo giữ nguyên vẹn dữ liệu khi truyền đi. Ngoài ra nó chẳng cần biết dữ liệu đó là gì và được xử lý như thế nào.

Dựa trên khả năng vận chuyển của giao thức TCP/IP, người ta xây dựng nên một nhóm các giao thức khác chuyên xử lý dữ liệu nhận được từ TCP/IP, gọi là chùm giao thức TCP/IP hay họ giao thức TCP/IP.

Để phân chia các giao thức con trong chùm giao thức TCP/IP, người ta sử dụng một khái niệm khác gọi là Cổng giao thức. Đây là 1 con số nguyên từ 0 đến 32767 thì phải . Mỗi giao thức con trong chùm giao thức sẽ chiếm hữu một cổng riêng. Thông thường thì mỗi chương trình ứng dụng trên server sẽ chịu trách nhiệm mở một cổng TCP/IP, định nghĩa giao thức cho cổng đó, và sau đó là lắng nghe các yêu cầu từ máy khách và xử lý các yêu cầu đó.

Như vậy, trong hệ giao thức TCP/IP, một máy khách sẽ truy cập thành công đến máy chủ nếu như nó có địa chỉ IP và cổng đang mở của dịch vụ trên máy chủ.

Chẳng hạn: Với 1 máy chủ quản lý web (web server), chúng ta cần phải có một ứng dụng web gọi là web server. Ứng dụng này sẽ mở 1 cổng (mặc định là 80) và xử lý các tín hiệu đến từ cổng đó.

Bây giờ hãy nhấp 1 ngụm café cho tỉnh táo đã

II. Trang Web tĩnh và Trang Web động
1. Trang web tĩnh và trang web động

Bạn đã từng xây dựng một trang Web và đưa nó lên mạng? Trang web của bạn thật là thú vị (ít nhất là theo ý nghĩ của bạn ) và tất nhiên bạn muốn tham khảo ý kiến của người đọc? Chẳng nhẽ bạn lại cho số điện thoại và yêu cầu người góp ý phải gọi điện đến? Hic… Đảm bảo sẽ chẳng có ma nào thèm gọi điện.
Bạn muốn "xin" một ít thông tin về người duyệt Web… hic. Làm cách nào bây giờ???
Vâng, đó chính là nhược điểm của cái gọi là trang web tĩnh. Đó là các trang Web không cho phép bạn có thể tương tác với người dùng (chẳng hạn như là trao đổi hay thu thập các thông tin từ phía người dùng). Nó là các trang web có đuôi *.htm thông thường. Ngược lại, các trang Web động cho phép bạn nhận thông tin từ người dùng, xử lý thông tin đó, và có thể đáp trả lại các yêu cầu của họ. Xem ra nó cũng linh động ra phết đấy chứ?
Để làm được điều đó, tất nhiên là bạn phải … theo dõi các bài viết này

2. Lập trình Script

Các trang web nguyên thuỷ sử dụng ngôn ngữ định dạng chuẩn là HTML (HyperText Markup Language). HTML chuẩn chỉ bao gồm các cặp thẻ đánh dấu để định khuôn dạng của tài liệu. Tuỳ theo tên thẻ là gì mà trình duyệt sẽ tự động hiểu và làm các công việc do thẻ đó quy định. Chẳng hạn như cặp thẻ <B>….</B> quy định đoạn văn bản trong đó sử dụng chữ đậm. Vì vậy, trên thực tế người ta không coi nó là một ngôn ngữ (vì nó chẳng liên quan gì đến những thứ mà ta hay gặp trong lập trình như biến, câu lệnh rẽ nhánh, lặp…). Cũng chính vì nguyên nhân này, nó phải tự mở rộng bằng cách cho phép "nhúng" vào bản thân nó một số đoạn mã lệnh chương trình đặc biệt, người ta thường gọi chúng là các đoạn mã Script hay các đoạn mã nhúng . Ngôn ngữ sử dụng trong các đoạn mã lệnh đó gọi là các ngôn ngữ Script. Các ngôn ngữ script thường đơn giản và không có nhiều sức mạnh như các ngôn ngữ "kinh điển" cùng tên, hay nói cách khác, chúng là một phần rất nhỏ của một ngôn ngữ nào đó được tích hợp vào trình duyệt để thực hiện một số thao tác nhất định.
Chi tiết về ngôn ngữ HTML đã có đầy rẫy trên Internet, cũng như ở các hiệu sách, nên chúng không được nhắc lại ở đây. Nếu các bạn chưa biết gì về nó thì bạn phải tìm đọc các tài liệu về HTML trước khi tiếp tục theo dõi khoá học này.

Lập trình Script ở máy khách

Như tên gọi của nó, lập trình script ở máy khách là viết các đoạn script chạy trên máy khách. Các đoạn mã này được máy chủ gửi kèm trong tài liệu, đưa về máy khách và được thực hiện ở đây.
Trong tài liệu gửi về trình duyệt, các đoạn mã này thường được tìm thấy trong cặp thẻ <Script language ="xxxxxx">…</Script>.
Có nhiều ngôn ngữ script phía máy khách. Nổi tiếng hơn cả là Javascript. Kế đến là VbScript và PerlScript.
Vì tài liệu này chủ yếu tập trung vào PHP - một ngôn ngữ script chạy trên máy chủ, nên chi tiết những ngôn ngữ này không được nhắc đến trong tài liệu. Riêng về JavaScript, các bạn có thể tìm thấy các tài liệu tiếng Việt qua trang tìm kiếm Vinaseek.com. Nếu có thời gian, tôi khuyên các bạn nên tìm hiểu về chúng. Rất nhiều xảo thuật bắt mắt có thể tìm thấy trong các đoạn mã này.

Lập trình Script ở máy chủ

Trái ngược với lập trình Script ở máy khách (thực thi mã lệnh ở máy khách), lập trình script ở máy chủ cho phép thực thi các đoạn mã ngay ở trên máy chủ. Không như các đoạn mã script hoạt động ở máy khách, các tài liệu có chứa các đoạn mã script phía máy chủ thường được lưu ở các file tài liệu có đuôi mở rộng riêng biệt, và các đoạn mã thi hành trên máy chủ cũng phải được đặt trong một cặp thẻ đặc biệt tuỳ theo quy định của chương trình xử lý. Chú ý rằng đối với mỗi loại ngôn ngữ server script sẽ có một chương trình xử lý riêng. Chẳng hạn các đoạn mã ASP thường được đặt trong các file *.asp, và chúng được xử lý bằng file ASP.dll.
Chi tiết về cách thức hoạt động của loại này, có thể tóm tắt như sau:
- Bước 1: Client gửi yêu cầu đến máy chủ
- Bước 2: Web server kiểm tra xem yêu cầu đó cần loại tài liệu nào. Nếu đó là loại tài liệu có chứa các đoạn mã server script, nó sẽ triệu gọi chương trình xử lý tương ứng với loại tài liệu đó
- Bước 3: Chương trình xử lý sẽ thực thi các đoạn mã server script trong tài liệu đó, và trả kết quả (thường là dưới khuôn dạng HTML) về cho web server.
- Bước 4: Web server trả kết quả tìm được cho Client và ngắt kết nối.
Nguồn: phpvn.org

_________________
Không có boy IT xấu
Chỉ có Boy IT không biết Photoshop thôi
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.soledad.come.vn
soledad
Admin


Nam Tổng số bài gửi : 60
Age : 27
Registration date : 18/10/2008

Bài gửiTiêu đề: tiếp   Sun Oct 26, 2008 9:07 am

Bài 2: Cài đăt web server Apache, MySQL và PHP


1. Cài đặt giao thức TCP/IP
Các dịch vụ web server dựa trên nền giao thức TCP/IP. Vì vậy trước khi cài đặt server, ta phải tiến hành cài đặt giao thức TCP/IP.

Để cài đặt giao thức TCP/IP, ta vào Control Panel, chọn Network. Nếu thấy dòng chữ TCP/IP đã xuất hiện trong ô Configuration, tức là giao thức TCP/IP đã được cài đặt trên máy. Còn nếu không, ta kích chuột vào Add. Hộp thoại Select Component hiển thị ra. Kích chọn tiếp Protocol -> Add. Trong danh sách bên trái, chọn Microsoft. Sau đó sang danh sách bên phải, chọn TCP/IP. Bấm Enter để bắt đầu quá trình cài đặt.

Trong quá trình cài đặt, nếu máy tính của bạn chưa có card mạng thì hệ thống sẽ yêu cầu cài một trình điều khiển card mạng nào đó. Đừng lo, cứ chọn đại theo chỉ dẫn sẽ xong thôi.

Sau khi cài đặt xong, mở cửa sổ Command Prompt ra. Gõ lệnh
C:\ping 127.0.0.1
Nếu thấy có 4 dòng chữ có dạng:
Reply from 127.0.0.1: byte = xx time<xx ms TTL =xxx
Reply from 127.0.0.1: byte = xx time<xx ms TTL =xxx
Reply from 127.0.0.1: byte = xx time<xx ms TTL =xxx
Reply from 127.0.0.1: byte = xx time<xx ms TTL =xxx

tức là giao thức TCP/IP đã được cài đặt thành công.

Ghi chú: Dãy số 127.0.0.1 chính là địa chỉ IP mặc định của chính máy tính bạn đang sử dụng. Bạn cũng có thể sử dụng cái tên localhost thay cho địa chỉ IP 127.0.0.1 để truy cập vào máy tính của chính mình.
2. Cài đặt web server, PHP, MySQL:
(xem: http://phpcodevn.com/forum/lap-trinh...-dau-tien.html)
3. Một số thông tin về hệ thống:
- Thư mục gốc ảo: Là thư mục www của hệ thống. Đây là thư mục gốc của Apache. Mọi địa chỉ URL gửi lên server sẽ được phân tích thành đường dẫn tương ứng với đường dẫn của thư mục gốc ảo trên.
- Thư mục dữ liệu của MySQL: Nằm trong thư mục /mysql/data. Trong thư mục này, MySQL sẽ lưu trữ các CSDL (Database) dưới dạng các thư mục, mỗi bảng trong CSDL được ghi trong một file riêng biệt.
- Để thao tác với CSDL MySQL, các bạn có thể mở trình duyệt và vào phpMyAdmin .
- Để xem các thông tin của hệ thống, các bạn mở trang phpinfo.php
Nguồn: phpvn.org

Bài 3: Lịch sử phát triển các ứng dụng trên Web server: ASP, JSP và PHP

Lịch sử phát triển các ứng dụng trên Web server. ASP, JSP và PHP
Vài năm trước đây, con đường thực sự duy nhất để vận chuyển các dữ liệu động tới trang Web là kỹ thuật CGI (Common Gateway Interface). Các chương trình CGI cung cấp một sự liên hệ đơn giản để tạo các ứng dụng Web cho phép tiếp nhận các dữ liệu nhập vào, các yêu cầu truy vấn cơ sở dữ liệu từ phía người dùng và trả một vài kết quả về cho trình duyệt. Các chương trình CGI có thể được viết trên một vài ngôn ngữ, trong đó phổ biến nhất là Perl. Web server sử dụng CGI như là một cổng truy cập chặn giữa yêu cầu của người dùng và dữ liệu được yêu cầu. Nó sẽ được nạp vào bộ nhớ như một chương trình bình thường. Thông thường các web server sẽ chuyển các yêu cầu và triệu gọi chương trình CGI. Sau khi chương trình kết thúc, web server sẽ đọc dữ liệu trả về từ chương trình và gửi nó đến trình duyệt.
Nhược điểm lớn nhất của kỹ thuật CGI là nó hoạt động kém hiệu quả. Mỗi khi web server nhận một yêu cầu, một tuyến trình mới được tạo ra. Mỗi tuyến trình lại chứa trong nó các đoạn mã lệnh, dữ liệu… và không được chia sẻ lẫn nhau, do đó gây ra lãng phí bộ nhớ. Để khắc phục nhược điểm này, Microsoft và Netscape đã hợp tác và đưa ra một cải tiến đáng kể là chuyển chúng về dạng các file thư viện liên kết động (DLL ), cho phép chia sẻ mã lệnh giữa các tuyến trình. Đây chính là các kỹ thuật ISAPI và NSAPI.
Đen đủi thay, các kỹ thuật dựa trên DLL không phải là đã hoàn thiện. Chúng vẫn còn một số vấn đề:
- Khi các thư viện nền tảng được gọi, nếu muốn thoát các ứng dụng này, ta phải tắt chương trình triệu gọi (Web server) và khởi động lại máy tính.
- Các thư viện cần được đặt trong các tuyến trình bảo vệ, tức là chúng cần phải được cảnh giác về cách sử dụng các biến chung hoặc các biến tĩnh.
- Nếu chương trình triệu gọi gây ra lỗi truy cập, nó có thể dẫn đến tình trạng server bị treo tắc tử.
- Và cuối cùng: khi đã được dịch ra các file DLL, công việc gỡ lỗi cũng như bảo trì mã lệnh trở nên vất vả hơn bao giờ hết.

Kỹ thuật Web mới nhất của Microsoft, kết hợp HTML, các đoạn Script, các thành phần xử lý phía server trong cùng một file, được gọi là ASP (Active Server Pages), với phiên bản mới nhất hiện nay là ASP.Net. ASP được triệu gọi bởi một thư viện liên kết động gắn với các Web server của Microsoft. Về bản chất, ta có thể coi ASP như là một ngôn ngữ thông dịch vậy. Một trang ASP có thể sử dụng HTML, JScript và VBScript. Qua các đoạn mã nhúng này, ASP có thể truy cập đến các thành phần phía server. Các thành phần này có thể được viết trên bất kỳ ngôn ngữ nào hỗ trợ các thành phần COM của Microsoft. Và đây chính là sức mạnh của ASP: Nó có thể làm được bất kỳ cái gì mà máy chủ có thể làm được với các thành phần COM. Sau khi được thi hành, ASP sẽ sản sinh ra một trang Web có khuôn dạng HTML và trả nó về cho Web server.

Một bất lợi lớn đối với ASP là nó chỉ có thể hoạt động trên các họ Web server của Microsoft (bao gồm PWS trên Win9x hay IIS trên WinNT/2000/XP). Các nhà phát triển đang hướng đến những môi trường khác như Unix/Linux (hiện đã có bản Chili! ASP chạy trên các môi trường này), nhưng kết quả thì còn phải đợi thêm một thời gian nữa

Trước khi đi vào tìm hiểu lịch sử của PHP, có lẽ chúng ta cũng phải nhắc đến một tên tuổi khác là Java Server Pages. hay JSP. Giống như ASP, trang JSP cho phép chứa HTML, các đoạn mã Java và các thành phần Java Bean và chúng sẽ thực hiện các công việc để sản sinh ra một trang Web để gửi về Client. Bất lợi chính của loại này là phải đi kèm với "máy ảo Java", vốn không được coi là nhanh về mặt tốc độ.
Lịch sử PHP
PHP - viết tắt của PHP Hypertext Preprocessor - một định nghĩa đệ quy khó hiểu!
Vào khoảng năm 1994, Rasmus Lerdorf đưa một số đoạn Perl Script vào trang Web để theo dõi xem ai đang đọc tài liệu của ông ta. Dần dần, người ta bắt đầu thích các đoạn Script này và sau đó đã xuất bản một gói công cụ có tên là "Personal Home Pages" (nghĩa đầu tiên của PHP). Ông ta đã viết một cơ chế nhúng và kết hợp với một số công cụ khác để phân tích đầu vào từ các mẫu biểu HTML: FI, Form Interpreter hay Phiên dịch mẫu biểu, được tạo ra theo cách đó và được đặt tên là PHP/FI hay PHP2. Nó được hoàn thành vào khoảng giữa năm 1995.

Sau đó, người ta bắt đầu sử dụng các công cụ này để xây dựng những thứ rắc rối hơn, và đội ngũ phát triển đã thay đổi từ một người duy nhất thành một nhóm các nhà phát triển nòng cốt trong dự án, và nó đã được tổ chức hoá. Đó là sự bắt đầu của PHP3. Đội ngũ các nhà phát triển (Rasmus Lerdorf, Andi Gutmans, Zeev Suraski, Stig Bakken, Shane Caraveo và Jim Winstead) đã cải tiến và mở rộng bộ máy nhúng và bổ sung thêm một số hàm API đơn giản cho phép các lập trình viên khác tự do bổ sung nhiều tính năng vào ngôn ngữ bằng cách viết các module cho nó. Cấu trúc của ngôn ngữ đã được tinh chế, được kết cấu thân thiện hơn đối với những người đến từ các ngôn ngữ hướng đối tượng hay các ngôn ngữ hướng thủ tục. Nếu bạn đã biết một vài ngôn ngữ lập trình khác thì khi đến với PHP, bạn sẽ không cảm thấy khó khăn.
Phiên bản mới nhất cho đến thời điểm này là PHP 5.0.1. Các bạn có thể tham khảo chi tiết tại trang web PHP: Hypertext Preprocessor
Nguồn: phpvn.org

_________________
Không có boy IT xấu
Chỉ có Boy IT không biết Photoshop thôi
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.soledad.come.vn
soledad
Admin


Nam Tổng số bài gửi : 60
Age : 27
Registration date : 18/10/2008

Bài gửiTiêu đề: tiếp 2   Sun Oct 26, 2008 9:08 am

Bài 4: Chương trình PHP đầu tiên: Hello World!

--------------------------------------------------------------------------------

I. Khởi đầu

Nếu các bạn đã từng học lập trình, chắc các bạn cũng biết được "Hello world!" là cái gì, còn nếu bạn nào chưa biết, thì tôi sẽ giải thích ngay đây:

"Hello world!" là một chương trình dành cho những người mới bắt đầu học một ngôn ngữ lập trình nào đó. Chương trình này đơn giản chỉ viết duy nhất một dòng chữ "Hello world!" ra màn hình. Các bạn có thể bỏ qua nó nếu đã biết từ trước, còn nếu bạn nào chưa học, thì chúng ta bắt tay vào viết chương trình này bằng PHP nhé.

Hãy mở NotePad ra, gõ vào nội dung sau:

Trích:
<HTML>
<BODY>
<?php
echo ("Hello world!");
?>
</BODY>
</HTML>

OK, Save lại với cái tên test.php. Copy nó vào thư mục gốc (Root Directory) mặc định của Web server. Khởi động Web server Apache lên (nó sẽ hiển thị một cửa sổ đen ngòm, bạn cứ để đó, đừng tắt nó đi, vì nếu tắt đi thì tức là bạn đã tắt chương trình Web server Apache đi rồi đấy).

Bây giờ mở trình duyệt ra, tại ô địa chỉ, gõ nội dung sau: "http://127.0.0.1/test.php" (nhớ bỏ hai dấu ngoặc kép đi nhé)

Nó sẽ hiển thị ra cửa sổ trình duyệt với duy nhất dòng chữ Hello world!

Chắc bạn thất vọng lắm hả? Vâng, nó chỉ có mỗi dòng chữ "Hello world!" trên màn hình trình duyệt, mà bạn có thể làm nó đơn giản hơn rất nhiều, chẳng cần đến cái PHP kia. OK. Đừng thất vọng vội.

Chương trình này hoạt động như thế nào? Trước tiên chúng ta hãy tìm hiểu cách thức hoạt động của hệ trình duyệt (Web Client) và máy chủ cung cấp dịch vụ Web (Web server ) đã nhé:

Bước 1: Trình duyệt gửi một yêu cầu HTTP đến máy chủ, yêu cầu một file nào đó

Bước 2: Máy chủ sẽ chuyển yêu cầu này đến chương trình xử lý tương ứng, chính là chương trình Web server.

Bước 3: Web server phân tích chuỗi yêu cầu nhận được, kiểm tra xem trình duyệt ở máy khách yêu cầu gì. Nếu đó là các file bình thường (không phải là các file chứa các đoạn mã script thực thi phía máy chủ), nó sẽ tìm kiếm file đó và trả về cho trình duyệt ở máy khách. Còn nếu đó là các file chứa các đoạn mã script thực thi phía máy chủ (các chương trình CGI, hay các file thư viện liên kết động ISAPI, hoặc các file *.asp hay *.php), nó sẽ triệu gọi chương trình thực thi các đoạn mã này. Chương trình này sẽ chịu trách nhiệm chạy các đoạn mã, trả chúng về cho Web server dưới khuôn dạng của HTML. Sau đó, Web server mới trả kết quả lấy được cho trình duyệt.

Như vậy, chương trình của bạn phải được thực thi trên máy chủ, sau đó mới được trả về cho trình duyêt. Và đây chính là cái gọi là "Trang Web động". Không như các trang web tĩnh, trang web động cho phép bạn có sự tương tác với máy chủ thông qua các đoạn script thực thi phía server. Nhờ có sự tương tác này, bạn có thể truy xuất cơ sở dữ liệu, lấy thông tin người sử dụng, điều khiển các hoạt động khác...

OK. Bây giờ chắc bạn đã có được chút ít kiến thức với các hệ thống điều khiển Web Client - Server rồi. Đến lượt chúng ta bắt đầu phân tích chương trình đầu tiên kia.

II. Phân tích chương trình

Quay trở về đoạn mã trên.
Điều đầu tiên các bạn cần phải biết, đó là các đoạn mã thực thi PHP luôn luôn được đặt trong thẻ <?php .... ?>. Chương trình xử lý phía máy chủ sẽ chỉ thực thi các đoạn mã nằm trong thẻ này. Tất cả các đoạn mã khác nằm ngoài thẻ trên đều không được xử lý trực tiếp trên server mà được đưa về trình duyệt.

<?php
// Đoạn mã PHP đặt ở đây
?>

Điều thứ 2 bạn cần biết là chương trình của bạn phải được đặt trong các file *.php. Nếu bạn đặt nó vào file khác, thì đừng mong nó chạy nhé, vì nguyên tắc của chương trình Web server là chỉ triệu gọi các chương trình xử lý tương ứng với các file có đuôi xác định trước.

Điều thứ 3 bạn cần biết là trong file *.php của bạn, ngoài các đoạn script PHP, bạn có thể đặt bất kỳ cái gì theo khuôn dạng HTML, kể cả các đoạn JavaScript chạy trên máy khách. Tức là ngoại trừ các đoạn script PHP ra thì nó không khác gì một file HTML thông thường

Điều thứ 4 các bạn cần biết, là chúng ta có thể đặt nhiều đoạn mã xử lý PHP khác nhau trong cùng một file PHP. Các đoạn mã PHP này sẽ được thực thi lần lượt từ đầu file xuống dưới. Hãy xem ví dụ sau:


Trích:
<HTML>
<BODY>
<?php
echo ("Hello world!");
?>
<BR>
Xin chao tat ca cac ban, day la chuong trinh PHP dau tien cua toi
<?php
echo ("<p align=right> CMXQ </p>")
?>
</BODY>
</HTML>

Khởi đầu, chương trình xử lý phía Web server sẽ phân tích file PHP này, trả về đoạn mã

<HTML>
<BODY>

Tiếp theo, khi thấy đoạn mã thứ nhất, nó sẽ thực thi và trả về dòng "hello, world" (Dòng này do hàm echo() của PHP thực hiện). Sau đó, nó tiếp tục trả về các dòng

<BR>
Xin chao tat ca cac ban, day la chuong trinh PHP dau tien cua toi

Đến khi gặp đoạn PHP thứ 2, nó sẽ thực thực thi đoạn mã thứ 2 này (gọi hàm echo()) và trả về kết quả:

"<p align=right> CMXQ </p>"

Hết đoạn mã thứ 2. Nó sẽ gửi tiếp phần còn lại của file về cho Web server. Sau đó, Web server chính thức trả toàn bộ kết quả về cho trình duyệt.

Điều quan trọng cuối cùng: Kết thúc mỗi câu lệnh của PHP đều là một dấu chấm phẩy (";"), ngoại trừ một vài trường hợp (các bạn sẽ được biết sau này)

Bây giờ tôi xin giải thích cách sử dụng hàm duy nhất trong bài này: echo()

Hàm echo được sử dụng để trả về nội dung của các biến, hằng, chuỗi... cho trình duyệt. Ở ví dụ trên, hàm echo trả về chuỗi "hello, world" và chuỗi "<p align=right> Le Nguyen Sinh </p>". Các thẻ HTML trong chuỗi sẽ được giữ nguyên khi nó được đưa về trình duyệt, và nó sẽ được xử lý như các thẻ HTML khác.

III. Một số lưu ý

Dấu chú thích:

Các đoạn chú thích rất hữu dụng trong các chương trình của bạn (chẳng hạn muốn chú thích câu lệnh này làm gì, đoạn chương trình này làm gì...). Khi phân tích mã PHP, các đoạn chú thích sẽ bị bỏ qua, nhưng một lập trình viên thì không bao giờ bỏ qua chúng

Chúng ta có thể sử dụng một số dấu chú thích sau trong PHP:

// dòng văn bản chú thích (chỉ áp dụng trên một dòng)
/* Đoạn văn bản chú thích */ (nằm trong cặp /* và */

Lưu ý rằng các dấu chú thích này chỉ có hiệu lực trong các đoạn mã nhúng PHP thôi đấy nhé

Ví dụ

<?php
echo("Tôi là một oan hồn vô danh"); // Hiển thị lời giới thiệu lên màn hình

echo (" Sơ yếu lý lịch");
/* Hiển thị bản sơ yếu lý lịch
Copyright © by CMXQ
*/
echo ("Tên đầy đủ: XXXXXXX");
echo ("Ngày sinh: XXXX");
?>


Ký tự giải phóng

Hãy chú ý đến dòng chữ sau:
My name's "CMXQ"

Để in nó ra màn hình, chắc các bạn sẽ làm như sau:

<?php
echo("My name's ""CMXQ"");
?>

Rất tiếc là bạn đã nhầm. PHP có quy định một số ký tự đặc biệt (Dấu ngoặc kép (") là một trong các ký tự đó). Một vài phiên bản của web server khi gặp lỗi này đã không thực hiện nữa, và thông báo lỗi đến người dùng. Còn trong một vài phiên bản khác, nó sẽ tự động chèn một dấu sượt chéo (/) trước ký tự gây lỗi này. Một dấu gạch chéo (\) trước ký tự gây lỗi khiến cho nó được đối xử như là một ký tự thông thường, không phải là ký tự đặc biệt. Ký tự này (\) được gọi là ký tự giải phóng (Escaping character).

Đoạn mã đúng như sau:

<?php
echo ("My name's: \"CMXQ\"");
?>

Dưới đây là một số các ký tự đặc biệt mà có thể được chỉ rõ với ký tự giải phóng gạch chéo

Ký tự nối tiếp Nghĩa
\' Dấu móc lửng (')
\" Dấu móc kép (")
\\ Dấu gạch chéo (\)
\$ Dấu $
\n Ký tự tạo dòng mới
\r Ký tự về đầu dòng
\t Ký tự Tab

Hãy xem ví dụ dưới đây (yêu cầu bạn tự tìm hiểu và phân tích mã nguồn)

<?php
$name="Tiến Tùng";
echo("Giá trị của biến \$name là $name);
?>

OK. Đến bây giờ, bạn đã biết một chút về PHP rồi đấy. Hãy viết vài chương trình PHP, sử dụng hàm echo đi đã nhé . Nhớ chú ý cách thức xử lý các kết quả trả về. Hẹn gặp lại các bạn trong bài sau.
Chúc các bạn thành công!
Nguồn: phpvn.org

_________________
Không có boy IT xấu
Chỉ có Boy IT không biết Photoshop thôi
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.soledad.come.vn
soledad
Admin


Nam Tổng số bài gửi : 60
Age : 27
Registration date : 18/10/2008

Bài gửiTiêu đề: tiep 3   Sun Oct 26, 2008 9:09 am

Bài 5: Hằng và biến trong PHP

--------------------------------------------------------------------------------

1. Hằng và biến
Nếu các bạn chưa từng học lập trình, chắc các bạn đang còn xa lạ với hằng và biến. OK, No Star where
- Giống như trong toán học, một hằng số xác định một giá trị duy nhất thông qua tên của hằng số, trong Tin học cũng vậy. Môt hằng số xác định một giá trị duy nhất trong toàn bộ chương trình. Người ta có thể sử dụng giá trị này thông qua tên của hằng số đó trong chương trình
- Tương tự đối với biến. Một biến trong lập trình được sử dụng để lưu trữ một giá trị nào đó thông qua tên biến. Sở dĩ người ta gọi nó là biến, vì không như hằng số (giữ nguyên giá trị trong toàn bộ quá trình chạy chương trình), người ta có thể thay đổi giá trị của biến số thông qua các phép gán.

Để tạo điều kiện dễ dàng trong quá trình phân tích dữ liệu, PHP quy định bất kỳ từ nào có dấu $ ở trước đều là tên của biến. Ví dụ:
$ten xác định một biến có tên là ten
$custome_name: xác định một biến có tên là $custome_name

Bạn cần biết rằng tên biến là một chuỗi các ký tự chỉ bao gồm các chữ số, chữ cái (a..z) và dấu gạch dưới ( _ ). Và PHP quy định phân biệt các biến chữ hoa và chữ thường là khác nhau. CHẳng hạn $ab và $Ab là 2 biến hoàn toàn khác nhau. Một điểm cần lưu ý khác là không được đặt tên biến bắt đầu bằng các chữ số (0.. 9)

Do quy định các chuỗi ký tự có chứa dấu $ ở trước là một tên biến, nên PHP tự động khởi gán giá trị của các biến này là rỗng (đối với kiểu dữ liệu văn bản) hoặc 0 đối với kiểu dữ liệu số. Bạn sẽ được biết đến các kiểu dữ liệu sau này.

Để gán giá trị cho các biến, bạn sử dụng câu lệnh gán như sau:
$tên_biến = giá trị cần gán;

Ví dụ:
$nam_sinh=1980;
$ho_ten="CMXQ";

Các bạn chú ý đến 2 ví dụ tôi nhập dữ liệu: một cái thì nằm trong cặp dấu ngoặc kép chỉ thị biến đó chứa dữ liệu theo kiểu xâu, còn một cái thì không nằm trong cặp dấu ngoặc kép chỉ thị biến đó chứa dữ liệu kiểu số. Bạn sẽ biết chi tiết hơn ở ngay sau đây:

2. Các kiểu dữ liệu trong PHP

PHP có 3 kiểu dữ liệu cơ bản: Integer, double và string. Ngoài ra còn một số kiểu dữ liệu khác, đượ xây dựng dựa trên các kiểu dữ liệu cơ bản trên, như mảng, object, mà chúng ta sẽ đề cập đến sau. Tất cả các biến đều được chỉ định kiểu dữ liệu, và như chúng ta đã nói ở trên, giá trị của chúng có thể bị thay đổi trong quá trình sử dụng.

Kiểu giá trị Integer sử dụng 4 byte của bộ nhớ. Đây là kiểu giá trị nguyên (không phải là số thực) và có giá trị nằm trong khoảng từ -2 tỷ đến 2 tỷ. Kiểu dữ liệu double là kiểu dữ liệu số thực, cho phép chứa các số thưc. Kiểu String được sử dụng để chứa các dữ liệu như là các ký tự văn bản, ký tự đặc biệt và các chữ số. Dữ liệu kiểu string được đặt trong cặp dấu ngoặc kép ("") chỉ định một xâu (hay còn gọi là chuỗi ký tự).

Ví dụ:
2: Kiểu integer;
2.0: kiểu double
"2": Kiểu xâu
"2 gio": Kiểu xâu

3.Định nghĩa hằng

Hàm define() được sử dụng để tạo một hằng số:
Hàm này có cấu trúc sau:
define ("tên_hằng","giá trị của hằng");
Ví dụ:
define ("COMPANY","NS Co.Ltd");// Định nghĩa hằng COMPANY với giá trị là "NS Co Ltd"
define ("diem_so",4.5);// định nghĩa hằng diem_so với giá trị là 4.5 (hic... thi lại );

Sau khi một hằng số được tạo ra, ta có thể sử dụng chúng thay cho giá trị của chúng:
echo ("Tên công ty: ".COMPANY);
Điều này tương đương với echo ("Tên công ty: NS Co Ltd");

4. Một số hằng xây dựng sẵn (built in constant)

PHP có chứa một số hằng được xây dựng sẵn. TRUE và FALSE là 2 hằng đã được dựng sẵn với chỉ định true (1) và false (=0 hoặc một xâu rỗng)

Hằng số PHP_VERSION chỉ định phiên bản của bộ phân tích PHP mà bạn đang dùng hiện tại. Hằng PHP_OS chỉ định hệ điều hành server mà trình phân tích PHP đang chạy.

echo (PHP_OS); // in ra màn hình "Linux" (ví dụ)

_FILE_and_LINE_ trả về tên của đoạn script (đoạn mã nhúng) đang được phân tích tại dòng hiện thời trong đoạn mã script.

PHP còn cung cấp một số hàm để thông báo lỗi như E_ERROR, E_WARNING, E_PARSE và E_NOTICE.

Ngoài ra, PHP còn cung cấp một số biến cung cấp thông tin về môi trường PHP đang sử dụng. Để xem các thông tin này,bạn có thể dùng hàm phpinfo() như sau:

<HTML>
<!-- phpinfo.php-->
<BODY>
<?php
phpinfo();
?>
</BODY>
</HTML
5. Lừa kiểu và ép kiểu dữ liệu

Như chúng ta đã biết, tất cả các biến PHP đều có kiểu dữ liệu riêng. Kiểu dữ liệu của biến sẽ được tự động xác định bởi giá trị đặt vào biến

$a=1 // $a là kiểu integer
$a=1.2 // Bây giờ, nó là kiểu double
$a="1" // Và bây giờ nó là kiểu string

a) Chuyển kiểu chuỗi và lừa kiểu dữ liệu

Nếu bạn làm các thao tác tính toán số trên một chuỗi, PHP sẽ tính toán chuỗi như là một số. Điều này được biết đến với cái tên gọi là "chuyển kiểu chuối (String conversion), mặc dù giá trị chuỗi của nó có thể không cần phải thay đổi. Trong đoạn ví dụ sau, biến $str được xác định là một chuỗi:
$str="756300 không có";
Nếu chúng ta cố cộng thêm một giá trị nguyên là 3 vào biến $str, biến $str sẽ tự động tính với số nguyên 756300:
$x=4+$str;//$x =756304

Nhưng bản thân giá trị của biến $str không thay đổi

echo ($str); // In ra màn hình chuỗi "756300 không có"

Chuyển kiểu chuỗi phải tuân theo 2 nguyên tắc sau:
- Chỉ những chuỗi bắt đầ là một xâu các chữ số. Nếu chuỗi bắt đầu bằng một giá trị số hợp lệ, chuỗi này sẽ được xác định như giá trị của nó, trong trường hợp khác, nó sẽ trả về 0. VD: chuỗi "35 tuổi" sẽ được ước lượng là 35, nhưng chuỗi "tuổi 35" sẽ chỉ xác định giá trị 0.

- Một chuỗi sẽ chỉ được xác định như là một giá trị kiểu double nếu giá trị kiểu double được miêu tả bao gồm toàn bộ chuỗi. Chuỗi "3.4", "-4.2" sẽ được ước lượng như giá trị thực 3.4 và -4.2. Nếu một ký tự không phải là ký tự kiểu số thực được đưa vào chuỗi, giá trị của chuỗi đó sẽ được ước lượng như là một số nguyên. Chuỗi "3.4 dollar" sẽ thành số nguyên 3.

Trong việc cộng với chuỗi chuyển kiểu, PHP sẽ thực hiện "lừa kiểu" giữa 2 kiểu số. Nếu bạn thực hiện một phép toán số học giữa kiểu thực và kiểu nguyên, giá trị sẽ là số thực

$a=1 //$ a là một số nguyên
$b= 1.0 //$b là số thực
$c=$a+$b //$c là kiểu số thực , = 2.0
$d = $c+"6th" //$d là kiểu số thực = 8.0

Ép kiểu dữ liệu

Ép kiểu dữ liệu cho phép bạn thay đổi kiểu dữ liệu của biến

$a=11.2// $a là kiểu thực
$a=(int)$a// Bây giờ, $ a là kiểu nguyên, giá trị = 11
$a= (double) $a// Bây giờ $a lại trở về kiểu thực = 11.0
$b= (string)$a// $b là giá trị kiểu chuỗi ="11"

Ngoài ra, chúng ta còn được phép ép kiểu (array) và (object)

(integer) tương đương với (int); (fload) và (real) tương đương với (double)

6. Một số hàm tiện ích khác

PHP có một số hàm hỗ trợ làm việc với các biến

- Hàm gettype($ten_bien) xác định kiểu của biến. Nó sẽ trả về một trong các giá trị: "integer", "double", "string", "array", "object", "class", "unknown type" (Chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn vể mảng (array) và kiểu đối tượng (object) ở các bài sau.
Ví dụ:
echo(gettype($name));

- Hàm settype($ten_bien,"kieu_du_lieu") sẽ đặt kiểu dữ liệu cho biến $ten_bien. Kiểu dữ liệu được viết dưới dạng một chuỗi, và có thể có một trong các kiểu sau: "integer", "double", "string", "array", "object". Nếu kiểu dữ liệu không được đặt, giá trị false sẽ được trả về, còn nếu thành công, nó sẽ trả về giá trị true.

VD:
$a=7.5; //$a là kiểu thực
settype($a,"integer"); // bây giờ nó là một số nguyên có giá trị 7

- Hàm isset($ten_bien) được sử dụng để xác định xem biến $ten_bien đã đặt một giá trị nào đó hay chưa. Nếu biến đó đã có giá trị, hàm trả về true. Trong truờng hợp ngược lại, hàm trả về giá trị false;
- Hàm unset($ten_bien) được sử dụng để huỷ bỏ biến $ten_bien, giải phóng bộ nhớ bị chiếm dụng của biến đó
Nguồn: phpvn.org

_________________
Không có boy IT xấu
Chỉ có Boy IT không biết Photoshop thôi
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.soledad.come.vn
soledad
Admin


Nam Tổng số bài gửi : 60
Age : 27
Registration date : 18/10/2008

Bài gửiTiêu đề: tiep 4   Sun Oct 26, 2008 9:10 am

CSS (Cascading Style Sheet) - Định kiểu trình bày trang HTML

--------------------------------------------------------------------------------

Trước khi đọc bài này các bạn cần có kiến thức cơ bản về WWW, HTML cùng những kỹ năng cơ bản nhất để làm một trang web

CSS là gì?
- CSS: Cascading Style Sheet: Đây là những mẫu để quy định cách thức thể hiện các thẻ HTML. Bạn có thể xem ví dụ về cách thức thể hiện các thẻ này ở CSS in Action
- CSS có 3 cách sử dụng:
+ Sử dụng trực tiếp kèm với các thẻ HTML (Inline Style Sheet)
+ Định nghĩa trong 1 trang web (Internal Style Sheet)
+ Định nghĩa thành 1 file CSS riêng (External Style Sheet)
- Style được đưa vào HTML 4.0 để giải quyết một số vấn đề.
- CSS giúp bạn tiết kiệm được rất nhiều thời gian và công sức cho việc thiết kế web.
- Bạn có thể định nghĩa nhiều style vào một thẻ HTML
Style (mẫu định dạng) giải quyết một số vấn đề chung:
- Ta biết rằng các thẻ HTML chuẩn được thiết kế để định nghĩa nội dung của một văn bản. Đầu tiên các thẻ HTML hỗ trợ cách viết "Đây là tiêu đề", "Đây là đoạn", "Đây là bảng".... bằng cách sử dụng các thẻ <H1>, <P>, <TABLE>... Cách bố trí văn bản này được qui định bởi trình duyệt web và không có bất cứ một thẻ nào để định dạng văn bản.
- Đến các trình duyệt thế hệ sau đặc biệt là Nescape và Internet Explorer tiếp tục đưa thêm vào các thẻ HTML mới cùng các thuộc tính định dạng riêng của mình (như các thẻ <FONT> và thuộc tính Color...). Do đó ngày càng khó để tạo ra được một web site khi mà nội dung của nó bị tách rời khỏi cách bố trí.
- Để giải quyết vấn đề này World Wide Web Consortium (W3C) đã tạo ra STYLE để đưa thêm vào trong HTML 4.0
- Cả hai trình duyệt lớn là Nescape Và Internet Explorer đều hỗ trợ CSS.
CSS giúp bạn tiết kiệm được rất nhiều thời gian và công sức cho việc thiết kế web.
- Style trong phiên bản HTML 4.0 (phiên bản chúng ta đang dùng) qui định cách thức thể hiện các thẻ HTML tương tự như thẻ <FONT> hay thuộc tính COLOR trong HTML 3.2. Style thường được lưu trong các file nằm ngoài trang web. Chúng giúp bạn có thể thay đổi cách thức định dạng và cách bố trí các trang web chỉ bằng cách thay đổi riêng file CSS. Chỉ khi bạn muốn thay đổi lại toàn bộ màu sắc, cách định dạng của các tiêu đề, nội dung bạn mới hiểu rõ tác dụng thực sự của CSS.
- CSS cho phép chúng ta điều khiển cách định dạng và cách bố trí của cùng lúc nhiều trang web với chỉ duy nhất 1 lần thay đổi tại một vị trí. Là một người thiết kế web, bạn có thể định nghĩa 1 file CSS cho các thẻ HTML và áp dụng nó vào nhiều trang web mà bạn muốn. Để thay đổi tổng thể các trang web này bạn chỉ đơn giản là thay đổi file CSS và tất cả các trang đã áp dụng sẽ được thay đổi một cách tự động.
Bạn có thể định nghĩa nhiều style vào một thẻ HTML
CSS cho phép bạn đưa các thông tin định nghĩa thẻ thông qua nhiều con đường khác nhau. Style có thể được qui định ở trong chỉ một thẻ HTML, được qui định trong 1 trang web hoặc ở trong một file CSS bên ngoài.
Thứ tự áp dụng các định dạng
Như trên đã nói, ta có thể sử dụng nhiều cách khác nhau để làm CSS. Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn áp dụng nhiều cách định dạng cho 1 thẻ HTML?
Theo một cách chung nhất ra có thể nói các style của bạn sẽ được "xếp tầng" (cascade). Việc xếp tầng này tuân theo thứ tự sau: (Số 1 là ưu tiên nhất, số 4 là kém ưu tiên nhất).
1. Inline Style (Style được qui định trong 1 thẻ HTML cụ thể)
2. Internal Style (Style được qui định trong phần <HEAD> của 1 trang HTML )
3. External Style (style được qui định trong file CSS ngoài)
4. Browser Default (thiết lập mặc định của trình duyệt)
Như vậy ta thấy các thiết lập trong 1 thẻ HTML có mức ưu tiên cao nhất, Những gì được định nghĩa ở đây sẽ bị bỏ qua tất cả các định nghĩa khác (như trong thẻ <HEAD>, File CSS ngoài,...)

Cú pháp của CSS
Cú pháp của CSS được tạo nên bởi 3 thành phần:
- Thành phần lựa chọn (thường là một thẻ HTML) (Selector)
- Thuộc tính (Property)
- Giá trị (Value)
Cú pháp của CSS được thể hiện như sau:


Selector {
Property1: Value1;
Property2: Value2;
}


- Selector thường là các thẻ HTML mà bạn muốn định nghĩa thêm. Property là thuộc tính mà bạn muốn thay đổi; mỗi một thuộc tính cần phải có một giá trị. Một thuộc tính và giá trị của nó được phân cách bởi dấu hai chấm (. Hai cặp thuộc tính-giá trị được phân cách nhau bởi dấu chấm phảy (. Toàn bộ các cặp thuộc tính-giá trị của một thẻ HTML được đặt trong cặp dấu ngoặc nhọn ({})
Ví dụ


body{color: black} /*Phần chữ trong thẻ body sẽ có màu đen*/
hay:
p {text-align: center} /*tất cả các thẻ <P> trong trang HTML sẽ được canh giữa.*/
hay định nghĩa nhiều thuộc tính:
p
{
text-align: center;
color: red;
font-family: arial
}

Nhóm các thẻ
Trong trường hợp bạn muốn định nghĩa nhiều thẻ giống nhau bạn có thể nhóm các thẻ lại. Ví dụ dưới đây sẽ nhóm tất cả các thẻ Header lại và định nghĩa chúng sẽ có màu xanh:

h1,h2,h3,h4,h5,h6
{
color: green
}


Tạo các lớp
Bằng việc tạo ra các lớp, bạn có thể định nghĩa nhiều kiểu thể hiện khác nhau cho cùng một thẻ HTML và áp dụng mỗi lớp vào một vị trí cần thiết trên trang web.
Các lớp gắn với 1 thẻ cụ thể
Ví dụ: Trên trang web của bạn có 3 loại đoạn văn: Đoạn văn canh lề trái, đoạn văn canh lề giữa và đoạn văn canh lề phải. Khi đó bạn có thể định nghĩa 3 lớp riêng biệt cho 3 loại đoạn văn này như sau:

p.trai {text-align: left}
p.phai {text-align: right}
p.giua {text-align: center}

Tiếp theo, trong trang HTML bạn sử dụng như sau:

<p class="trai">Đoạn văn này được canh lề trái.</p>
<p class="phai">Đoạn văn này được canh lề phải.</p>
<p class="giua">Đoạn văn này được canh lề giữa.</p>

_________________
Không có boy IT xấu
Chỉ có Boy IT không biết Photoshop thôi
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.soledad.come.vn
soledad
Admin


Nam Tổng số bài gửi : 60
Age : 27
Registration date : 18/10/2008

Bài gửiTiêu đề: tiep 5   Sun Oct 26, 2008 9:11 am

Chú ý:
- CSS phân biệt chữ hoa và chữ thường giống như C++ do đó khi viết bạn cần phải cẩn thận trong việc sử dụng chữ hoa, chữ thường.
- Trong trang HTML, bạn chỉ được phép khai báo 1 thẻ thuộc duy nhất một lớp. Trái điều này mặc dù trình duyệt không báo lỗi nhưng các lớp sẽ không hoạt động được.
Ví dụ về sử dụng lớp sai:

<p class="trai" class="phai">Đây là đoạn định nghĩa sai</p>

Các ví dụ ở trên là ví dụ về việc tạo các lớp bị "gắn chặt" với một thẻ nào đó, tức là ta không sử dụng được lớp này trong thẻ khác. Theo các khai báo ở trên, ví dụ dưới đây sẽ không hoạt động:

<td class="trai">Ví dụ này không hoạt động</td>

Các lớp không gắn với một thẻ cụ thể (có thể gắn với hầu như tất cả các thẻ):
Rất đơn giản, bạn có thể tạo ra một lớp mà lớp đó có thể gắn vào hầu như bất cứ thẻ nào trên trang web bằng cách bỏ tên thẻ ở đầu đi nhưng nhớ giữ lại dấu chấm (.)
Ví dụ:
Định nghĩa một lớp "giua" có thể gắn với bất cứ thẻ nào

.giua{text-align="center"}

và trong trang HTML ta sử dụng như sau:

<p class="giua">Đoạn văn này được canh lề giữa.</p>
<td class="giua">Câu này cũng được canh lề giữa.</p>

Tạo các định danh (ID)
Tương tự như các lớp, các định danh cũng cho phép chúng ta chia các thẻ thành nhiều loại khác nhau. Tuy nhiên trên thực tế thì Định danh khác với lớp!!! Một lớp có thể áp dụng nhiều lần ở nhiều vị trí trên trang web, tuy nhiên 1 định danh chỉ có thể áp dụng được duy nhất cho 1 thẻ và tên của định danh phải là duy nhất trên 1 trang web.
Các ví dụ:
1. Đoạn mã dưới đây có thể áp dụng cho thẻ <P> có ID là para1

p#para1
{
text-align: center;
color: red
}

Khi sử dụng như sau:

<P id="para1">Đoạn văn bản</p>

2. Đoạn mã dưới đây có thể có hiệu lực cho thẻ đầu tiên có ID là xyz:

*#xyz {color: green}

Khi sử dụng:

<p id="xyz">Đoạn văn bản</P>

3. Đoạn mã dưới đây chỉ có thể áp dụng cho thẻ <P> đầu tiên:

p#wer345 {color: green}

Khi sử dụng:

<p id="wer345">Đoạn văn bản</p>

Và đoạn dưới đây không có hiệu lực:

<h1 id="wer345">Đoạn văn bản không được áp dụng</p>

Chú thích trong CSS
Bạn có thể bổ xung các chú thích cho đoạn mã của mình trong CSS. Các đoạn chú thích sẽ được trình duyệt bỏ qua. Đoạn chú thích được tạo ra tương tự như trong C++ (đặt bắt đầu bởi /* và kết thúc bởi */)
Ví dụ:

/* Đây là đoạn chú thích*/
p
{
text-align: center;
/* Và đây là một đoạn chú thích khác */
color: black;
font-family: arial
}

Tạm thời thế đã, bây giờ chúng ta sẽ xem 2 ví dụ về dùng CSS dưới đây. Trong các ví dụ này ở khung phái trên bên trái là đoạn mã HTML của trang web, khung bên phải là mã CSS và ở phía dưới là kết quả.
Ví dụ 1: CSS Example
Ví dụ 2: CSS Example

ai bài trên đã giới thiệu với bạn cách viết các mã định dạng CSS. Bài này sẽ hướng dẫn bạn cách sử dụng các mã đã được tạo ra.
Làm thế nào để chèn một đoạn mã CSS vào trang web
- Khi trình duyệt web đọc trang web của bạn nó sẽ định dạng trang web theo cách CSS đã qui định cho nó.
- Theo như bài đầu tiên đã đề cập, chúng ta có tất cả 3 loại CSS dó đó chúng ta cũng sẽ có 3 cách để chèn CSS vào trang web của mình.
Với External Style Sheet ( Sử dụng file CSS được định nghĩa thành 1 file riêng)
Sử dụng External Style Sheet là một cách lý tưởng khi ta cần phải định dạng nhiều trang web theo một mẫu thống nhất. Với external Style Sheet chúng ta có thể thay đổi dáng vẻ của một trang web chỉ với việc thay đổi duy nhất 1 file. Mỗi trang web sử dụng file CSS ngoài này đều phải sử dụng thẻ <LINK>. Thẻ <LINK> được đặt bên trong thẻ <HEAD>
Ví dụ:

<head>
<link rel="stylesheet" type="text/css" href="mystyle.css" />
</head>

Nếu một trang web có đoạn mã trên thì khi hiển thị trang web trình duyệt sẽ đọc các style được định nghĩa trong file mystyle.css và định dạng văn bản theo nó. Nếu tên file của bạn không phải là mystyle.css thì bạn chỉ cần đổi tên của file thành tên file của bạn.
Một file CSS có thể được viết ra từ bất kì trình soạn thảo văn bản nào. Trong file CSS chỉ chứa các định dạng, không bao gồm các thẻ HTML. Một tệp CSS nên ghi với phần mở rộng là .CSS Ví dụ dưới đây thể hiện toàn bộ nội dung của một file CSS.

hr {color: sienna}
p {margin-left: 20px}
body {background-image: url("http://phpcodevn.com/forum/images/back40.gif")}


Với Internal Style Sheet (Định nghĩa các style sheet ngay trong trang web)
Trong trường hợp mỗi trang web của bạn sử dụng các định dạng khác nhau, bạn hãy dùng Internal Style Sheet. Để định nghĩa Internal Style Sheet bạn sử dụng thẻ <STYLE> đặt bên trong thẻ <HEAD>.
Ví dụ:

<head>
<style type="text/css">
hr {color: sienna}
p {margin-left: 20px}
body {background-image: url("http://phpcodevn.com/forum/images/back40.gif")}
</style>
</head>

Trình duyệt sẽ đọc đoạn mã này và định dạng trang web theo nó.
Chú ý:
- Thông thường trình duyệt sẽ bỏ qua đoạn mã mà nó không thể hiểu nổi. Điều đó có nghĩa là với các trình duyệt cũ chúng sẽ bỏ qua thẻ <STYLE>. Tuy nhiên nó không bỏ qua nội dung bên trong thẻ này. Điều đó có nghĩa là phần thông tin định nghĩa style của bạn sẽ bị "phơi" hết lên trang web. Do đó để giải quyết vấn đề này bạn hãy sử dụng chú thích của HTML để bao quanh các mã định nghĩa CSS. Đoạn mã trên được sửa lại thành như sau:

<head>
<style type="text/css">
<!--
hr {color: sienna}
p {margin-left: 20px}
body {background-image: url("http://phpcodevn.com/forum/images/back40.gif")}
-->
</style>
</head>

_________________
Không có boy IT xấu
Chỉ có Boy IT không biết Photoshop thôi
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.soledad.come.vn
soledad
Admin


Nam Tổng số bài gửi : 60
Age : 27
Registration date : 18/10/2008

Bài gửiTiêu đề: tiep 6   Sun Oct 26, 2008 9:11 am

Với Internal Style Sheet (style được qui định ngay trong mỗi thẻ HTML)
Khi sử dụng Internal Style Sheet là bạn đã đánh mất đi những tác dụng to lớn của CSS với việc trộn lẫn mã định dạng với nội dung trang. Bạn chỉ nên sử dụng phương pháp này trong một số trường hợp rất đặc biệt mà cách định dạng thẻ chỉ áp dụng duy nhất 1 lần trong 1 trang web.
Sử dụng phương pháp này bạn đưa ngay những mã định dạng vào thẻ HTML cần thiết. Các mã định dạng này có thể bao gồm mọi thứ có thể dùng trong Internal Style Sheet và External Style Sheet.
Đoạn mã dưới đây sẽ thay đổi màu sắc và lề của một đoạn trong trang web.

<p style="color: sienna; margin-left: 20px">
This is a paragraph
</p>

Sử dụng nhiều Style Sheet
Nếu cùng một thẻ được định nghĩa ở nhiều nơi thì thẻ này sẽ kế thừa tất cả các thuộc tính đã được định nghĩa ở tất cả các vị trí. Nếu như các thuộc tính định nghĩa xung đột nhau chúng sẽ được lấy theo thứ tự ưu tiên đã đề cập đến ở bài 1.
Ví dụ:
Một file style sheet ngoài được định nghĩa thẻ <H3> như sau:

h3
{
color: red;
text-align: left;
font-size: 8pt
}

Sau đó một trang web sử dụng file CSS ở trên trong nó lại có phần định nghĩa cho thẻ <H3> như sau:

h3
{
text-align: right;
font-size: 20pt
}

Và kết quả thẻ <H3> sẽ được định nghĩa là kết hợp của 2 định nghĩa trên và là:

color: red;
text-align: right;
font-size: 20pt

rên đây chúng ta đã cùng nhau thảo luận những vấn đề chung nhất trong việc sử dụng CSS. Phần tiếp theo tôi xin giới thiệu với các bạn cách áp dụng CSS vào những trường hợp cụ thể. Điều quan trọng trong phần này các bạn cần nhớ đó là các thuộc tính, tác dụng và các giá trị có thể đặt vào của mỗi thuộc tính này.
Áp dụng CSS với nền của trang web
Thuộc tính Background cho phép chúng ta điều khiển nền của một thành phần nào đó trên trang web. Thành phần này có thể là nền trang, nền nút, nền ô textbox,...
Bạn thử tưởng tượng, chúng ta có thể đặt được những thuộc tính gì cho nền? CSS cho phép bạn lựa chọn những thuộc tính sau:
Nền là màu đồng nhất hay là một bức ảnh?
+ Trong trường hợp là màu đồng nhất thì đó là màu gì? Xanh, đỏ,...
+ Trong trường hợp đó là ảnh:
- Ảnh đó là ảnh nào?
- Ảnh đó được sắp xếp thế nào
Các lựa chọn như vậy CSS cho phép qui định như sau:
* Thuộc tính background-color:
- Ý nghĩa: Cho phép đặt màu nền là một màu đồng nhất nào đó.
- Các giá trị:
+ Bộ màu RGB (RGB(255,0,0): Màu đỏ; RGB(0,255,0): Màu xanh lá cây,...)
+ Màu được qui định bởi những con số HEX (#FF0000: Màu đỏ; #00FF00: Màu xanh lá cây,...)
+ Màu cơ bản được đặt tên bằng từ tiếng Anh (red: đỏ; green: xanh lá cây,...)
+ transparent: Trong suốt (có thể nhìn xuyên qua đối tượng có màu nền trong suốt được)
Ví dụ: tạo một lớp nếu áp dụng nó thì đối tượng sẽ có màu nền đỏ.

.MauNenDo {background-color: #FF0000}

* Thuộc tính backround-image đặt một ảnh có sẵn làm nền.
- Các giá trị:
+ url(địa chỉ): lấy ảnh được chỉ định trong "địa chỉ" làm nền.
+ none: Không có ảnh nền.
Nguồn: phpvn.org

_________________
Không có boy IT xấu
Chỉ có Boy IT không biết Photoshop thôi
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.soledad.come.vn
soledad
Admin


Nam Tổng số bài gửi : 60
Age : 27
Registration date : 18/10/2008

Bài gửiTiêu đề: tiep 7   Sun Oct 26, 2008 9:12 am

Bài 7: Các câu lệnh gán và rẽ nhánh trong PHP

--------------------------------------------------------------------------------

OK, bây giờ chúng ta chuẩn bị làm việc với các câu lệnh "xương sống" của một ngôn ngữ lập trình.
Nếu bạn nào đã từng học qua một ngôn ngữ lập trình nào đó, thì các bạn có thể đọc lướt qua phần này. Còn nếu bây giờ bạn mới bắt đầu tiếp xúc với một ngôn ngữ lập trình thì... hãy chuẩn bị tinh thần đi

Các câu lệnh trong ngôn ngữ lập trình

Để lập trình giải một bài toán nào đó, chúng ta phải sử dụng các câu lệnh sau:
1. Lệnh gán: được sử dụng để đặt một giá trị vào một biến nào đó.
2. Lệnh rẽ nhánh: Được sử dụng để xác định xem chương trình sẽ thực hiện công việc gì trong điều kiện ra sao
3. Lệnh lặp: Cho phép chương trình của bạn tự động lặp lại các thao tác nào đó
Quá trình xây dựng các bước để thực hiện một bài toán nào đó, gọi là quá trình xây dựng thuật giải.

Ví dụ: Hãy tưởng tượng bạn đang ... nhậu

Bước 0: chưa có ai say rượu
Bước 1: Kêu chủ quán cho một chai "cuốc lủi" (tạm thời là lệnh gán)
Bước 2: Khi còn chưa hết chai thì nhày sang bước 3:
Bước 3: Mỗi thằng một chén, trăm phần trăm
Bước 4: Nếu thằng nào xỉn, thì loại nó ra khỏi trận chiến (lệnh rẽ nhánh)
Bước 5: Nếu tất cả đều xỉn: tàn cuộc (lệnh rẽ nhánh), còn nếu không thì tiếp tục
Bước 6: Nếu hết một chai thì nhảy về bước 1 (Lệnh lặp)

OK, đến giờ thì chắc bạn đã hiểu qua một chút. Bây giờ chúng ta sẽ ứng dụng chúng vào PHP. Phần về các câu lệnh cơ bản trong PHP được chia làm 2 bài là Các câu lệnh rẽ nhánh và các câu lệnh lặp. Bài này tập trung vào việc xử lý câu lệnh gán và rẽ nhánh.

1. Lệnh gán

Lệnh này đã được học ở bài trước:
Cú pháp:
$ten_bien = gia_tri;
Ví dụ:

$ngay_sinh="1/4/1980";
$que_quan="Thanh Hoa";
$luong=300000;

2. Các câu lệnh rẽ nhánh
Trong PHP có 2 dạng rẽ nhánh: rẽ hai nhánh (if) và rẽ nhiều nhánh.

Lệnh rẽ nhánh là một trong những câu lệnh quan trọng nhất của tất cả các ngôn ngữ lập trình. Nó cho phép bạn thực thi một đoạn mã khi mà điều kiện chỉ định là đúng.

Trong PHP, lệnh rẽ nhánh có dạng sau:

if (điều kiện)
{
công việc cần làm
}
Ví dụ:
if ($name="Sinh")
{
echo ("Good morning, my boss");
}
Nếu khối câu lệnh cần làm chỉ bao gồm duy nhất một dòng lệnh, ta có thể bỏ cặp dấu {} :

if ($name="Sinh")
echo ("Good morning, my boss");
Nhưng nếu nhiều hơn một dòng lệnh, ta phải đưa chúng vào cặp dấu ngoặc {}:

if ($name=="Sinh")
{
echo ("Good morning, my boss");
echo ("Have a romantic day!");
}

Đoạn lệnh trên sẽ kiểm tra nếu điều kiện biến $name = "Sinh" thì nó sẽ hiển thị lời chào. Còn nếu không thì nó không làm gì cả!

Điều kiện đặt vào có thể là đúng, có thể là sai, có thể là tổng hợp của nhiều điều kiện. Hãy xem ví dụ sau:

if ("false" )
echo ("Khong co gi ca");

if (($name=="sinh") && ($pass=="test"))
echo ($name. "đã nhập đúng password");

Đoạn lệnh trên có thể viết tương đương với:

if ($name=="sinh")
{
if ($pass=="test")
echo ($name. "đã nhập đúng password");
}

Như bạn thấy ở trên, trong một câu lệnh, chúng ta có thể chèn nhiều đoạn lệnh khác, người ta gọi đó là cấu trúc khối, tức là trong một khối lệnh, có thể có chứa nhiều khối lệnh con khác. Nếu bạn phải đọc mã nguồn của người khác, hi vọng bạn không bị hoa mắt vì hàng chục khối lệnh chen chúc vào nhau như vậy.

Chúng ta có thể sử dụng các toán tử &&, || hay xor để kết nối các điều kiện với nhau như bạn thấy ở trên

Câu lệnh rẽ nhánh đầy đủ:

Nếu điều kiện kiểm tra trả về false (sai), PHP cho phép chúng ta chỉ định thực thi một khối mã lệnh khác bằng từ khoá else
Ví dụ:
if (($name=="sinh") && ($pass=="test"))
{
echo ("Good day, ".$name);
}
else
{
echo {"Sai mat khau!")
}

Chú ý đến một ngoại lệ sau: Trước từ khoá else không bao giờ có dấu chấm phẩy (.

Lệnh rẽ nhiều nhánh:

Với câu lệnh if, PHP cho phép chúng ta rẽ nhiều nhánh thông qua từ khoá elseif:

if (dieu_kien1)
{
doan_lenh_1;
}
elseif (dieu_kien_2)
{
doan_lenh_2
}
elseif (dieu_kien_3)
} // bao nhiêu từ khoá elseif cũng được
else
{
doan_lenh_n
}

Ví dụ:

if ($thu==2)
{
echo ("Chao co, van, su, ly");
}
elseif ($thu==3)
{
echo (" Hoa, Sinh, Dia, GDCD");
}
elseif ($thu==4)
{
echo ("KTCN, Van, Toan, Tieng Anh");
}
elseif ($thu==5)
{
echo (" Hoa, Toan, Van, Tin");
}
elseif ($thu==6)
{
echo ("Toan, Van, Anh, Sinh hoat");
}
else
{
echo ("Duoc di choi");
}

Trong ví dụ trên, chúng ta đã lặp đi lặp lại thao tác kiểm tra giá trị của biến $thu, mặc dù nó không thay đổi qua các dòng. Để khắc phục sự dài dòng này, PHP cho phép ta sử dụng câu lệnh switch. Câu lệnh này sẽ được sử dụng để kiểm tra khi muốn xem xét qua nhiều giá trị của một biến:

switch ($bien){
Case gia_tri 1:
doan_lenh_1;
Case gia_tri 2:
doan_lenh_2;
Case gia_tri n:
doan_lenh_n;
default:
doan_lenh_khac;
}

Ví dụ:

switch ($thu){
case 2:
echo ("Chao co, van, su, ly");
case 3:
echo (" Hoa, Sinh, Dia, GDCD");
case 4:
echo ("KTCN, Van, Toan, Tieng Anh");
case 5:
echo (" Hoa, Toan, Van, Tin");
case 6:
echo ("Toan, Van, Anh, Sinh hoat");
default:
echo ("Duoc di choi");
}

Câu lệnh switch sẽ ước lượng giá trị của biến $thu, và so sánh nó với giá trị của mệnh đề case. Khi một giá trị hợp lệ được tìm thấy, nó sẽ thực hiện câu lệnh tương ứng với giá trị đó. Còn nếu không, nó sẽ tự động thực hiện câu lệnh trong mệnh đề default. Hãy chú ý rằng mệnh đề defaul là tuỳ chọn (bạn có thể có nó hoặc không cần nó)
Nguồn: phpvn.org

_________________
Không có boy IT xấu
Chỉ có Boy IT không biết Photoshop thôi
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.soledad.come.vn
soledad
Admin


Nam Tổng số bài gửi : 60
Age : 27
Registration date : 18/10/2008

Bài gửiTiêu đề: tiep 8   Sun Oct 26, 2008 9:12 am

Bài 8: Lệnh điều khiển vòng lặp

--------------------------------------------------------------------------------

Lệnh điều khiển vòng lặp

Điều khiển vòng lặp, tức là bạn điều khiển chương trình của bạn tự động thực hiện một đoạn mã lệnh nào đó lặp đi lặp lại nhiều lần (lặp một số lượng lần nào đó, hoặc lặp cho đến khi thoả mãn một điều kiện nào đó).

PHP cung cấp cho chúng ta hai kiểu vòng lặp: vòng lặp while (lặp kiểm tra điều kiện, cho đến khi điều kiện được thoả mãn) và vòng lặp for (xác định số lần lặp lại)

a) Vòng lặp while

Vòng lặp while là một dạng vòng lặp đơn giản nhất, cấu trúc của nó gần giống như lệnh if:

while (điều kiện)
{
//Khoi cau lenh can lap
}

Vòng lặp while sẽ ước lượng một biểu thức giá trị kiểu boolean (đúng hoặc sai).Nếu giá trị của biểu thức là false, đoạn mã trong cặp dấu ngoặc (đoạn mã cần lặp) sẽ được bỏ qua và nhảy đến đoạn mã sau vòng lặp. Nếu giá trị của nó là true, đoạn mã trong cặp dấu ngoặc sẽ được thực thi. Khi bắt gặp dấu ngoặc ôm ("}") , điều kiện kiểm tra sẽ được tính toán lại, và nếu giá trị vẫn là true, đoạn mã trong ngoặc lại tiếp tục được thực thi. Chú ý rằng điều kiện lặp chỉ được tính toán tại thời điểm bắt đầu lặp. Vì vậy, dù điều kiện lặp có bị thay đổi trong quá trình thực thi đoạn lệnh trong cặp dấu {} thì đoạn lệnh đó vẫn được tiếp tục thực hiện cho đến hết. Muốn dừng lại ở một vị trí xác định nào đó trong khối câu lệnh, chúng ta sử dụng lệnh break:
Ví dụ1: Tính tổng từ 1 đến 5:

<?php
$i=0;
$tong=0;
while ($i<=5)
{
$tong=$tong+$i;
$i+=1;
}
?>

Ví dụ 2: Đoạn mã sau sẽ hiển thị trên trình duyệt 3 ô textbox (Với điều kiện bạn phải save nó dưới một file *.php :

<HTML>
<TABLE>
<BODY>
<?php
$i=1;
while ($i<=3)
{
?>
<TR><TD> <INPUT type="text"> </TD></TR>
<?php
$i+=1;
}
?>
</table>
</body>
</html>

b. Vòng lặp do...while

Vòng lặp này giống như vòng lặp while, nhưng thay vì kiểm tra điều kiện vào lúc đầu của đoạn lệnh cần lặp, thì nó lại kiểm tra giá trị điều kiện vào cuối vòng lặp. Điều này có nghĩa là nó luôn luôn thực hiện đoạn lệnh cần lặp ít nhất một lần.

Cấu trúc của nó như sau:

do
{ Đoạn (khối) câu lệnh cần lặp
} while (điều kiện);

Ví dụ:
<HTML>
<TABLE>
<BODY>
<?php
$i=1;
do
{
?>
<TR><TD> <INPUT type="text"> </TD></TR>
<?php
$i+=1;
}while ($i<=3);
?>
</table>
</body>
</html>

Để xác định lại sự khác nhau của 2 câu lệnh trên, đơn giản bạn chỉ việc thay điều kiện $i<=3 thành $i<1, bạn sẽ thấy hai kết quả khác nhau liền . Phần này dành cho bạn tự ngồi nghĩ. OK???

Quên mất, lúc nãy tôi đề cập đến lệnh break, nhưng chưa cho ví dụ, bây giờ chúng ta hãy xem xét ví dụ sau:

Các bạn biết rằng giai thừa là một con số lớn kinh khủng, và chương trình của chúng ta sẽ tính toán n giai thừa, với số n được gửi đến theo địa chỉ url: Nhanhoa.com - Offline (ở đó x là một số do người dùng tự nhập)

Do giai thừa là một con số cực kỳ lớn, nên chúng ta chỉ cho phép người dùng tính đến tối đa là 8 giai thừa chẳng hạn. Nếu họ nhập lớn hơn 8 thì sao? Hãy xem đây:

<HTML>
<?php
// Ghi lai voi ten file la giaithua.php
$giaithua=1;
$i=1;
while ( $i<=$n)
{
$giaithua*=$i;
$i+=1;
if ($i>8 )
{
echo ("Chi tinh den 8! <BR>");
break;
}
}
echo ("Ket qua la: ".$giaithua);
?>
</HTML>

Đoạn mã trên chỉ cho phép tính đến 8 giai thừa, nếu người dùng nhập một con số lớn hơn 8 thì máy sẽ hiển thị 8 giai thừa, còn nếu nhỏ hơn thì vẫn chạy tốt.

c) Vòng lặp for.

Vòng lặp for, với ý nghĩa đầu tiên là lặp với số lần định trước, có cấu trúc như sau:

for ( $biến = giá_trị_đầu; $biến < (hay <=) giá_trị_kết_thúc; tăng_biến_đếm)
{
// Khối câu lệnh
}

Biểu thức $biến=giá_trị_đầu, đảm bảo biến được gán một giá trị khởi đầu (1)
Biểu thức $biến< (hay <=) giá_trị_kết_thúc, sẽ xác định xem biến đã đạt đến giá trị kết thúc (tức là điều kiện lặp không còn đúng nữa) chưa (2)
Biểu thức tính toán tăng_biến_đếm đảm bảo để sau một số lần lặp nào đó thì biểu thức xác định điều kiện (2) sẽ dẫn đến kết quả sai (để thoát khỏi vòng lặp).

Ví dụ:
for ( $i = 1; $i <10; ++$i)
{
echo ("Giá trị của biến \$i là: ".$i);
}

Một biến dạng khác của vòng lặp for, gần giống như lệnh rẽ nhánh if và while:

for (bieu_thuc_1; bieu_thuc_2; bieu_thuc_3):
// Khối câu lệnh
endfor;

Ví dụ:

<?php
for ($i=1; $i<=10;++$i)

?>
<TR><TD> <INPUT type="text"> </TD></TR>
<?php
endfor
?>

OK, Như vậy các bạn đã học qua các lệnh cơ bản nhất của php, và cũng là các lệnh cơ bản của tất cả các ngôn ngữ lập trình (gán, rẽ nhánh và lặp). Sau này nếu phải triển khai trên các ngôn ngữ lập trình khác, cách viết các lệnh này có thể khác nhau, nhưng bản chất của chúng thì mãi mãi không bao giờ thay đổi.
Nguồn: phpvn.org

_________________
Không có boy IT xấu
Chỉ có Boy IT không biết Photoshop thôi
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.soledad.come.vn
soledad
Admin


Nam Tổng số bài gửi : 60
Age : 27
Registration date : 18/10/2008

Bài gửiTiêu đề: tiep 9   Sun Oct 26, 2008 9:13 am

Mảng ( Arrray) toàn tập

--------------------------------------------------------------------------------

Là một danh sách các phần tử có cùng kiểu dữ liệu.Mảng có thể là mảng một chiều hay nhiều chiều. Mảng có 2 thành phần là chỉ mục (key) và giá trị. Chỉ mục có thể là số nguyên hoặc là chuỗi . Bạn có thể khởi tạo mảng bằng các cách như sau:
$arr[key] = value;
$arr[] = value;
$arr= array($key1 =>value1,$key2=>value2);
$arr = array(value1, value2);
Như đã giới thiệu thì mảng có thể dùng số nguyên hoặc chuỗi để làm chỉ mục , ta tạm thời phân loại ra nhu sau:

1.Mảng một chiều có chỉ mục: là mảng được quản lý bằng cách sử dụng chỉ số dưới kiểu integer để biểu thị vị trí của giá trị yêu cầu.Cú pháp: $name[index1];
Ví dụ: một mảng một chiều có thể được tạo ra như sau:
$meat[0]="chicken";

$meat[1]="steak";

$meat[2]="turkey";

Nếu bạn thực thi dòng lệnh sau: print $meat[1]; thì trên trình duyệt sẽ hiển thị dòng sau: steak.

Bạn cũng có thể sử dụng hàm array( ) của PHP để tạo ra một mảng.Ví dụ:

$meat=array("chicken","steak","turkey");

Lưu ý : Khác với các ngôn ngữ lập trình khác ( nhu Pascal chẳng hạn) , phần tử đầu tiên của mảng có chỉ mục là 0 , không phải 1 . Nhưng khi khai báo mảng , chỉ mục khởi đầu không nhất thiết là 0 .
ví dụ bạn tạo mảng thế này
$meat = array("chicken","steak","tukey");
Để lấy phần tử đầu tiên bạn sẽ gọi
echo $meat[0];
Nhưng nếu khia báo thế này
$arr[5] = 1;
thì chỉ mục tiếp theo là 6.

$arr[] = 3; // key là 6 nhá.

Nhớ kỹ đều này nhá , lúc đầu tớ cũng bị PHP lừa về chuyện này đấy ( do trước đây chỉ học Pascal).

2.Mảng một chiều kết hợp: rất thuận lợi khi dùng để ánh xạ một mảng sử dụng các từ hơn là sử dụng các số ( integer), nó giúp ta giảm bớt thời gian và các mã yêu cầu để hiển thị một giá trị cụ thể.
Ví dụ: bạn muốn ghi lại tất cả các thức ăn và các cặp rượu ngon trong việc ăn nhậu của mình.

$annhau["ruou"] = "Minh Mạng Tửu";

$annhau["khaivi"] = "Lạc rang";

$annhau["Trangmieng"] = "Chuối";

Một cách khác là bạn có thể sử dụng hàm array( ) của PHP để tạo ra một mảng loại này, ví dụ như sau:

$annhau = array( "ruou" => "Minh Mạng Tửu", "khaivi" => "Lạc Rang", "trangmieng" => "Chuối");

Khi truy xuất phần tử mảng :
echo $annhau["ruou"];

Sẽ xuất ra : Minh Mạng Tửu

3.Mảng nhiều chiều có chỉ mục: chức năng của nó cũng giống như mảng một chiều có chỉ mục, ngoại trừ việc nó có thêm một mảng chỉ mục được dùng để chỉ định một phần tử. Cú pháp: $name[index1] [index2]..[indexN];

Một mảng hai chiều có chỉ mục được tạo ra như sau:

$position = $chess_board[5][4];


4.Mảng đa chiều kết hợp: khá hữu ích trong PHP. Giả sử bạn muốn ghi lại các cặp rượu-thức ăn, không chỉ loại rượu, mà cả nhà sản xuất. Bạn có thể thực hiện như sau:

$pairings["Martinelli"] ["zinfandel"] = "Broiled Veal Chops";

$pairings["Beringer"] ["merlot"] = "Baked Ham";

$pairings["Jarvis"] ["sauvignon"] = "Prime Rib";

--------------


Hết phần khái niệm , tiếp theo là giới thiệu các hàm để truy xuất mảng
Để truy xuất hay nhập giá trị cho 1 phần tử mảng cụ thể , bạn có thể gọi trực tiếp chúng như sau:
$arr = $mang[1];
hoặc
$arr = $dothi["x"];

Cú pháp là tên mảng[chỉ mục]

Tips : Để xóa 1 phần tử ra khỏi mảng , ta dùng unset()
Ví dụ
$arr = array(1,2,3,4);
unset($arr[2]);
// $arr bay giờ là array(1,2,4);

Để **** các phần tử của mảng , dùng hàm count()
$arr = array(1,2,3,4);
$so = count($arr); // đố bạn bằng bao nhiu ?

Để duyệt qua hết tất cả các phần tử của mảng (truy xuất hoặc nhập giá trị) ta dùng các cách sau:
Cách thứ nhất , dùng vòng lập for
Nếu biết trước số phần tử của mảng ta có thể dùng vòng lặp for để duyệt qua các phần tử mảng:


Trích:
<?php
$giatri = array(1,2,3,4,5,6,7,8,9,10);
for ($i = 0; $i < 10 ; $i ++)
echo $giatri[$i]."<br>";
?>

Chạy đoạn mã trên PHP sẽ xuất ra từ 1 đến 10 .

Để nhập giá trị vào thì cũng thế nhá
Ví dụ


Trích:
<?php

for ($i = 0; $i < 10 ; $i ++)
echo $giatri[$i] = $i +1 ;
?>

Cách thứ 2 : Dùng Foreach
Cú pháp :


Trích:
foreach (array_expression as $value)
statement
foreach (array_expression as $key => $value)
statement

Ví dụ


Trích:
<?php
$giatri = array(1,2,3,4,5,6,7,8,9,10);
foreach ($giatri as $value)
echo $value."<br>";
?>

Với foreach này để nhập giá trị vào ta phải thêm dấu " &" trước biến $value , như thế này &$value


Trích:
<?php
$arr = array(1, 2, 3, 4);
foreach ($arr as &$value) {
$value = $value * 2;
}
// $arr is now array(2, 4, 6, Cool
?>

Thêm 1 ví dụ nữa , lần này sẽ có sự xuất hiện của chỉ mục


Trích:
<?php
$arr = array("mot"=>"one", "hai"=>"two","ba"=> "three");
foreach ($arr as $key => $value) {
echo "Key: $key; Value: $value<br />\n";
}
?>

Một cách khác để làm như trên ta sẽ dùng vòng lặp while đi với list() và each(). Xét ví dụ sau , thay vì dùng foreach như trên thì ta dùng while như sau:


Trích:
<?php
$arr = array("one", "two","three");
while (list($key, $value) = each($arr)) {
echo "Key: $key; Value: $value<br />\n";
}
?>

Lưu ý , list() chỉ hoạt động với mảng có chỉ mục là số và phần tử khởi đầu của mảng có chỉ mục là 0 ( PHP manual nói thế)
List sẽ gán giá trị cho biến được khai báo bên trong hàm list với giá trị là giá trị tương ứng của mảng.
Còn hàm each() sẽ trả về giá trị chỉ mục và giá trị của phần tử mảng hiện tại , đồng thời chuyển vị trí của chỉ mục lên 1 đơn vị , sẽ trả về False nếu vị trí của chỉ mục là vị trí cuối cùng trong mảng.Cặp giá trị trả về này sẽ nằm trong 1 mảng 4 phần tử là 0,1 , key, value . Phần tử 0 và key chứa tên chỉ mục của mảng, phần tử 1 và value tất nhiên sẽ chứa giá trị .
Có thể chỉ sử dụng while và each thôi cũng được


Trích:
<?php
$arr = array("one", "two","three");
while ($phantu = each($arr)) {
echo "Key: $phantu["key"]; Value: $phantu["value"]<br />\n";
}
?>

Đối với mảng nhiều chiều thỉ cách làm cũng tương tự, chỉ phức tạp hơn là thêm 1 vòng lặp nữa.


Trích:
<?php
$sanpham = array( array("ITL","INTEL","HARD"),
array("MIR", "MICROSOFT","SOFT"),
array("PHP", "PHPVN.ORG","TUTORIAL")
);
for ($row = 0; $row < 3; $row++)
{
for ($col = 0; $col <3; $col++)
{
echo "|".$sanpham[$row][$col];
}
echo "<br>";
}
?>






================================================


Sắp xếp mảng
Do PHP lưu trữ các phần tử trong mảng theo thứ tự chúng được đưa vào mảng, chính vì vậy đôi lúc sẽ nảy sinh nhu cầu sắp xếp các phần từ trong mảng. Để sắp xếp ta có thể dùng các hàm có sẵn của PHP, tiêu biểu là hàm sort


Trích:
<?php
$arr = array(5, 3, 6, 4, 2, 1);
var_dump($arr);
echo "<br/>\n";
sort($arr);
var_dump($arr);
?>

Kết quả thu được sẽ là:


Trích:
array(6) {

* => int(5) [1]=> int(3) [2]=> int(6) [3]=> int(4) [4]=> int(2) [5]=> int(1) }

array(6) {

* => int(1) [1]=> int(2) [2]=> int(3) [3]=> int(4) [4]=> int(5) [5]=> int(6) }

_________________
Không có boy IT xấu
Chỉ có Boy IT không biết Photoshop thôi
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.soledad.come.vn
soledad
Admin


Nam Tổng số bài gửi : 60
Age : 27
Registration date : 18/10/2008

Bài gửiTiêu đề: tiep 10   Sun Oct 26, 2008 9:14 am

Bài 10: Cách lấy thông tin từ trình duyệt: GET, POST và COOKIE

--------------------------------------------------------------------------------

Dữ liệu của người dùng từ trình duyệt sẽ được gửi lên máy chủ dưới dạng từng cặp biến=giá_trị và có thể đi theo 3 con đường khác nhau. Tuỳ theo từng con đường cụ thể, trên máy chủ ta cũng có các cách khác nhau để lấy dữ liệu được gửi lên.. 3 con đường đó là: GET, POST và COOKIES. Vậy GET, POST và COKIES là gì?

1. Truyền dữ liệu thông qua phương thức GET
Dữ liệu gửi từ trình duyệt lên qua phương thức GET là phần dữ liệu được nhập trực tiếp theo sau địa chỉ URL do trình duyệt gửi lên, được phân biệt với tên file script bằng dấu hỏi chấm (?). Ví dụ, khi ta gõ vào trình duyệt địa chỉ URL sau:

http://www.phpvn.org/topic.php?TOPIC_ID=161
Khi đó, trình duyệt sẽ gửi theo địa chỉ trên một cặp biến = giá trị, trong đó biến có tên là TOPIC_ID và giá trị là 161 (TOPIC_ID=161).
Chúng ta cũng có thể đưa lên nhiều cặp biết=giá_trị bằng cách phân cách chúng bởi dấu &:
PHP Viet Nam - Index
Với địa chỉ URL trên, chúng ta sẽ gửi lên 3 cặp biến=giá_trị theo phương thức GET, đó là: method=Reply, TOPIC_ID=161 và FORUM_ID=20.
Khi trình duyệt gửi các thông tin này lên máy chủ, PHP sẽ tự động sinh ra một mảng có tên là $HTTP_GET_VARS[] để nắm giữ tất cả các cặp biến và giá trị đó, trong đó, chỉ số của mảng chính là một chuỗi mang tên của tên biến và giá trị của chỉ số đó chính là giá trị của biến do trình duyệt gửi lên. Ví dụ, với địa chỉ URL sau:

http://www.phpvn.org/post.php?method...61&FORUM_ID=20

Thì PHP sẽ tự động sinh ra một mảng $HTTP_GET_VARS có nội dung sau:



Trích:
$HTTP_GET_VARS["method"] = "Reply" // tương ứng với cặp method=Reply
$HTTP_GET_VARS["TOPIC_ID"] = 161 // tương ứng với cặp TOPIC_ID=161
$HTTP_GET_VARS["FORUM_ID"] = 20 // tương ứng với cặp FORUM_ID=20

Sau đó, trong trang web của mình, các bạn có thể tha hồ sử dụng các biến này. Ví dụ, tôi làm một đoạn chương trình sau để khi người dùng nhập vào biến user=sinh thì cho hiển thị "Hello, my Boss", còn nếu biến user khác sinh thì "Hello " + giá trị của biến:


Trích:
<?
// Hàm isset được sử dụng để kiểm tra xem một biến đã được thiết lập hay chưa
if (isset ($HTTP_GET_VARS["user"]))
{
if ($HTTP_GET_VARS["user"]=="sinh")
{
echo "Hello, my boss. Good morning!";
}
else
{
echo "Hello, " . $HTTP_GET_VARS["user"] . ". Good morning!";
}
}
else
{
echo "Hello, guest. How do you do?";
}
?>

OK, bây giờ hãy save lại. Giả sử tôi lưu với tên là welcome.php trong thư mục www. Mở trình duyệt lên, gõ vào ô Address dòng chữ sau:
http://localhost/welcome.php?user=sinh

Hãy xem kết quả hiển thị trên màn hình, sau đó thay chữ sinh bằng một cái tên gì đó xem kết quả ra sao.



II. Phương thức POST

Post là phần dữ liệu được gửi qua các form HTML có method ="POST" (xin xem lại bài về HTML).

Để lấy các biến theo kiểu POST, PHP sẽ tự động sinh ra mảng có tên là $HTTP_POST_VARS[]. Mảng này có chỉ số chính là tên của các phần tử trong form (các thẻ input, select... có thuộc tính name) và giá trị là nội dung giá trị do người sử dụng nhập vào các phần tử có tên tương ứng. Chẳng hạn với mẫu biểu HTML sau:


Trích:
<form method="POST">
<p>
User Name:<input type="text" name="T1" size="20"> </p>
<p>
Password:
<input type="password" name="T2" size="20"></p>
<p>Sex: <Select name ="sex">
<option value =1>Male </option>
<option value =0>Female </option>
</select>
</p>
<input type="submit" value="Gui di" name="B1">
</form>

Khi người dùng nhập user name (giả sử là Sinh), password (giả sử là 123456) và chọn sex là Male, khi đó, mảng $HTTP_POST_VARS sẽ có các phần tử sau:


Trích:
$HTTP_POST_VARS["T1"] = Sinh
$HTTP_POST_VARS["T2"] = 123456
$HTTP_POST_VARS["sex"] = 1

Sau khi lấy được các giá trị này rồi, các bạn có thể thoải mái sử dụng.

Đây là ví dụ một chương trình giải phương trình bậc nhất (cho nó đơn giản )


Trích:
<form method="POST">
<p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
Nhập a:<input type="text" name="a" size="20"></p>
<p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">Nhập b:<input type="text" name="b" size="20"></p>
<p style="margin-top: 0; margin-bottom: 0">
<input type="submit" value="Tính" name="B1"></p>
</form>
<?php
$a=0;
$b=0;
if (isset ($HTTP_POST_VARS["a"]))
{
$a =$HTTP_POST_VARS["a"];
}
if (isset ($HTTP_POST_VARS["b"]))
{
$b =$HTTP_POST_VARS["b"];
}
if ($a<>0)
{
echo "<BR>Nghiem la: " . $b/$a;Chỗ này là -$b/$a
}
else
{
if ($b==0)
{
echo "<BR>Vo so nghiem";
}
else
{
echo "<BR>Vo nghiem";
}
}
?>

Bây giờ hãy làm cốc cafe hoặc trà đá cho tỉnh táo.

III Cookie và cách sử dụng Cookie
Cookies là một phần dữ liệu được lưu trên máy khách. Mỗi khi máy khách gửi một yêu cầu tới máy chủ nào đó, thì nó sẽ gửi phần dữ liệu được lưu trong cookie tương ứng với máy chủ đó.

Trong Cookie có một số thông số sau:
- Địa chỉ URL mà trình duyệt sẽ gửi cookie tới
- Thời gian hết hạn của cookie
- Các cặp biến:giá trị được lưu trữ liên tục

Người ta thường dùng cookies để lưu trữ các thông tin có liên quan đến nhiều "phiên" làm việc khác nhau. Vi giao thức HTTP là giao thức không lưu trạng thái (Mỗi khi xử lý xong một yêu cầu từ máy khách là nó phủi tay tự ngắt kết nối luôn và chẳng thèm quan tâm đến máy khách làm gì ), nên cookies được sinh ra để làm nhiệm vụ lưu trữ một số biến trạng thái để khắc phục nhược điểm này.

Khác với dữ liệu gửi từ form (Post hay Get) thì cookies sẽ được trình duyệt tự động gửi đi theo mỗi lần truy cập lên máy chủ. Trong quá trình làm việc, cookie có thể bị thay đổi giá trị. Cookie sẽ bị vô hiệu hoá nếu cửa sổ trình duyệt điều khiển cookie đóng lại và cookie hết thời gian có hiệu lực. Theo mặc định, thời gian "sống" của cookies là tồn tại cho đến khi cửa sổ trình duyệt sử dụng cookies bị đóng. Tuy nhiên người ta có thể thiết lập tham số thời gian để cookie có thể sống lâu hơn (6 tháng chẳng hạn). Ví dụ như chế độ Remember ID & Password của 1 số trang web.

Cách ghi thông tin vào cookie và gửi xuống trình duyệt
Trong PHP, để gửi cookie xuống trình duyệt, ta có thể sử dụng hàm setcookie:
setcookie ( string name [, string value [, int expire [, string path [, string domain [, int secure]]]]])

Trong đó:
- string name: Chuỗi mang tên của cookie
- string value: Chuỗi mang giá trị của cookie tương ứng với tên đã cho
- int expire: Thời gian hết hạn của cookie
- string path: Đường dẫn của cookie (đến 1 thư mục nào đó trên máy chủ. Tham số này cho biết cookie sẽ chỉ được truyền đi nếu như trang web mà trình duyệt yêu cầu nằm trên thư mục đó, thay vì lúc nào cũng phải gửi đi tới bất kỳ khu vực nào).
- string domain: cookie này sẽ được gửi tới domain nào?
- int secure: Chế độ bảo mật.

Các tham số trong cặp dấu ngoặc vuông là tuỳ chọn

Ví dụ: setcookie ("ten_truy_cap","lan gio vo tinh");

Chú ý: Hàm setcookie phải được gọi trước khi bạn gửi bất kỳ một nội dung nào xuống trình duyệt:

VD: Cách dùng đúng:


Trích:
// Thực hiện các câu lệnh nào đó, nhưng không được phép gửi gì xuống trình duyệt
setcookie ("ten_truy_cap","lan gio vo tinh");
setcookie ("password","thumotti");
// Thực hiện các câu lệnh tiếp theo, có thể xuất dữ liệu xuống trình duyệt:

Trích:
echo "<html><body>Xin chào lan gio vo tinh";

VD: Cách dùng sai:


Trích:
// Thực hiện các câu lệnh nào đó
echo ("cái gì đó");
setcookie ("ten_truy_cap","lan gio vo tinh");
setcookie ("password","thumotti");
// các câu lệnh khác.

Ví dụ trên sai vì bạn đã trót gửi dòng "cái gì đó" xuống trình duyệt trước khi gọi hàm setcookie.

Cách lấy dữ liệu lưu trong cookie:

Để lấy dữ liệu đã lưu trong cookies do trình duyệt gửi lên, ta có thể dùng mảng


Trích:
$HTTP_COOKIE_VARS["tên_cookie"]

Chẳng hạn, với câu lệnh setcookie ở trên, sau khi trình duyệt gửi lên, ta sẽ có 2 biến sau:


Trích:
$HTTP_COOKIE_VARS["ten_truy_cap"] // chứa giá trị "lan gio vo tinh"
$HTTP_COOKIE_VARS["password"] // chứa giá trị "thumotti".

Chi tiết hơn các bạn có thể xem trong PHP Manual.
Nguồn: phpvn.org

_________________
Không có boy IT xấu
Chỉ có Boy IT không biết Photoshop thôi
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.soledad.come.vn
soledad
Admin


Nam Tổng số bài gửi : 60
Age : 27
Registration date : 18/10/2008

Bài gửiTiêu đề: tiep 11   Sun Oct 26, 2008 9:17 am

Bài 11: Các thông tin khác liên quan đến trình duyệt và máy chủ

--------------------------------------------------------------------------------

Trong PHP, ngoài các thông tin trình duyệt gửi lên thông qua các con đường POST, GET, COOKIES, chúng ta cũng có thể thu được một số thông tin khác có liên quan đến trình duyệt cũng như các thông số liên quan đến máy chủ như: đường dẫn, địa chỉ IP, phiên bản... Các thông tin này được lưu trữ trong biến mảng $_SERVER (đối với các phiên bản mới) hoặc $HTTP_SERVER_VARS (đối với các phiên bản cũ hơn bản 4.1.0):
$_SERVER['PHP_SELF']: Tên file nằm trên thư mục gốc của website. Ví dụ: biến $_SERVER['PHP_SELF'] trong script đặt tại địa chỉ http://example.com/test.php/foo.bar sẽ là /test.php/foo.bar.

$_SERVER['SERVER_NAME']: Tên của máy chủ host, nơi mà đoạn script được thực thi. Nếu đoạn script này đang chạy trên một host ảo thì giá trị này sẽ trả về tên host ảo đó.

$_SERVER['SERVER_SOFTWARE']: Chuỗi định danh của máy chủ, thường được cấp trong phần header khi trả lời các yêu cầu từ máy khách.

$_SERVER['SERVER_PROTOCOL']: Tên và phiên bản của giao thức mà trang web yêu cầu. VD: 'HTTP/1.0';

$_SERVER['REQUEST_METHOD']: Loại yêu cầu được sử dụng để truy cập trang web. VD: 'GET', 'HEAD', 'POST', 'PUT'.

$_SERVER['QUERY_STRING']: Câu truy vấn (chứa các thông tin liên quan đến các biến và giá trị của phương thức GET.

$_SERVER['DOCUMENT_ROOT']: Thư mục gốc của website, nơi mà file script đang được thực thi.

$_SERVER['HTTP_HOST']: Những nội dung liên quan đến Host header lấy từ yêu cầu hiện tại

$_SERVER['REMOTE_ADDR']: Địa chỉ của trình duyệt, nơi người sử dụng đang duyệt web.

$_SERVER['REMOTE_PORT']: Cổng được sử dụng trên máy khách (để kết nối tới web server).

$_SERVER['SCRIPT_FILENAME']: Đường dẫn tuyệt đối của file chứa script đang chạy

$_SERVER['SERVER_PORT']: Cổng của máy chủ web được mở để truyền dữ liệu. Mặc định là cổng 80.

$_SERVER['SERVER_SIGNATURE']: Chuỗi chứa phiên bản của máy chủ và tên host ảo (nếu được bật)

$_SERVER['PATH_TRANSLATED']: Đường dẫn file (không phải là thư mục gốc) dựa trên đường dẫn của đoạn
script.

$_SERVER['SCRIPT_NAME']: Chứa đường dẫn của file script. Thường dùng để trỏ đến chính nó.

$_SERVER['REQUEST_URI']: Địa chỉ URI (Định danh đối với các tài nguyên mạng, là một dạng thức mở rộng của URL).
###GOOGLEADSN###
Nguồn: phpvn.org

_________________
Không có boy IT xấu
Chỉ có Boy IT không biết Photoshop thôi
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.soledad.come.vn
soledad
Admin


Nam Tổng số bài gửi : 60
Age : 27
Registration date : 18/10/2008

Bài gửiTiêu đề: tiep 12   Sun Oct 26, 2008 9:18 am

Bài 12: Hàm trong PHP

--------------------------------------------------------------------------------

I. Khái niệm hàm

Hàm (function), nguyên nghĩa tiếng Anh có nghĩa là chức năng.

Trong lập trình, ta có thể hiểu hàm là một đoạn chương trình được xây dựng để thực hiện một chức năng nào đó.

Đoạn chương trình này chỉ cần phải viết duy nhất một lần, và có thể được sử dụng nhiều lần trong toàn bộ chương trình.

Một hàm sẽ được xác định bởi tên hàm và các tham số đầu vào liên quan đến hàm đó. Thông thường, hàm sẽ trả về một kết quả nào đó.

Chúng ta có thể tưởng tượng theo sơ đồ sau:


Trích:
Tham số đầu vào 1 |
Tham số đầu vào 2 |
Tham số đầu vào 3 | ---> tên hàm --> kết quả trả về sau khi gọi hàm.
.... |
Tham số đầu vào n |

Như vậy một hàm sẽ nhận các thông tin đầu vào, xử lý nó và trả về kết quả nào đó.

Trong PHP có rất nhiều hàm đã được xây dựng sẵn mà chúng ta chỉ việc đem ra sử dụng, như các hàm xử lý chuỗi, thời gian, xử lý tệp, thư mục...

Xét về bản chất, một ngôn ngữ lập trình chỉ có ba câu lệnh chính là gán, lặp và rẽ nhánh. Việc sắp xếp các câu lệnh như thế nào để cho ra một kết quả gọi là một thuật toán (các bước để giải một bài tóan, đã được đề cập ở những bài đầu tiên) hay giải thuật. Và một chương trình sẽ là sự kết hợp của giải thuật và các cấu trúc dữ liệu. Để hỗ trợ các chương trình xử lý một số tình huống nào đó, người ta sử dụng các hàm.

Các câu lệnh write của Pascal hay câu lệnh echo của PHP thực chất phải được gọi là các hàm chứ không phải là một câu lệnh.

Để giải thích rõ hơn khái niệm hàm, ta quay trở lại với "câu lệnh" echo quen thuộc:

Hàm echo(chuỗi) có tên là echo, tham số đầu vào là một chuỗi, và chức năng (kết quả mà nó trả về) là một dòng chữ (được lưu trong biến chuỗi) được trả về trình duyệt.
II. Các hàm dựng sẵn và các hàm do người dùng tự xây dựng
Các hàm dựng sẵn trong PHP (PHP Built-in functions) là các hàm đã được các nhà phát triển PHP cài đặt sẵn, và chúng ta chỉ việc đem ra sử dụng. Cần phân biệt các hàm này với các hàm do người dùng tự cài đặt (user functions). Các hàm do người dùng tự xây dựng chỉ có thể được dùng trong chương trình có chứa hàm đó. Khi chuyển qua một ứng dụng khác, nếu chúng ta không viết lại các hàm đó thì chúng ta sẽ không thể sử dụng.

Một điểm mà tôi rất thích sử dụng PHP đó là PHP có một thư viện các hàm dựng sẵn vô cùng phong phú, đáp ứng được hầu hết nhu cầu phát triển các ứng dụng web. Đó chính là lý do vì sao mà PHP được ưa chuộng hơn hẳn so với ASP (chỉ có mấy cái đối tượng "quèn"). Các hàm dựng sẵn trong PHP cũng rất đơn giản, dễ dùng, và được chú thích, cũng như hướng dẫn rất chi tiết trong tài liệu PHP Manual.

_________________
Không có boy IT xấu
Chỉ có Boy IT không biết Photoshop thôi
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.soledad.come.vn
soledad
Admin


Nam Tổng số bài gửi : 60
Age : 27
Registration date : 18/10/2008

Bài gửiTiêu đề: tiep 13   Sun Oct 26, 2008 9:18 am

Chuỗi (xâu) và các hàm xử lý chuỗi trong PHP

--------------------------------------------------------------------------------

1 addcslashes :Trích dẫn xâu kí tự với những vạch chéo trong kiểu C
*Cấu trúc :addcslashes(string with special characters);

2 addslashes :Trích dẫn xâu kí tự với những vạch chéo
*Cấu trúc : addcslashes(a string with special characters);

3 bin2hex :Chuyển đổi dữ liệu dạng nhị phân sang dạng biểu diễn hệ hexa
*Cấu trúc :bin2hex(string);

4 chop :Tách bỏ nhưng khoảng trắng từ cuối một xâu

5 chr : Cho một kí tự đặc biệt trong bảng mã
*Cấu trúc : chr(numeric);

6 chuck split : Tách một xâu thành các xâu nhỏ hơn

7 convert cyr string :Chuyển đổi từ một kí tự kirin sang một kí tự khác

8 count_chart : Cho thông tin về các kí tự dùng trong xâu

9 crc32 : Tính toán sự thừa vòng đa thức của một xâu
Tự động tạo ra chu ki kiểm tra tổng thừa của đa thức dài 32bit trong một xâu

10 crypt :Một cách mã hóa một xâu

11 echo : In ra một hay nhiều xâu

12 explode :Tách một xâu ra bởi xâu kí tự

13 fprintf :Viết một định dạng chuỗi ra một dòng

14 get html translation table :Cho ra bảng dịch bằng cách sử dung các thủ tục

html entity decode :

15 hebrev :Chuyển đổi văn ban logic khó hiểu sang văn ban trưc quan

16 hebrevc :Chuyển đổi văn ban logic khó hiểu sang văn ban trưc quan với sự chuyển đổi dòng mới

17 html entity decode :Chuyển đổi tấtcả cácthực thể HTML sang những kí tự có thể dùng được của chúng

18 htmlentities :Đổi tất cả các kí tự được sử dung sang các thực thể HTML

19 htmlspecialchars :Đổi những kí tự đặc biệt sang các thực thể của HTML

20 implode :Nối các phần tử của mảng với một xâu

21 join :Hàm này là một bí danh của hàm implode

22 levenshtein :Tính khoảng cách giữa hai xâu

23 localeconv :Lấy ra thông tin quy cách số

24,lstrim-- Strip whitespace from the beginning of a string
=>Xoá khoảng trắng từ phần tử đầu tiên của chuỗi

25,md5_file-- Calculates the md5 hash of a given filename
=>Mã hoá md5 tên file

26,md5 -- Calculate the md5 hash of a string
=>Mã hoá md5 1 chuỗi

27,metaphone -- Calculate the metaphone key of a string
=>Tính siêu khoá âm thanh của 1 chuỗi

28,money_format -- Formats a number as a currency string
=> Định dạng 1 số như 1 chuỗi tiền tệ

29,nl_langinfo -- Query language and locale information
=>Ngôn ngữ truy vấn và biên tập thông tin

30,nl2br -- Inserts HTML line breaks before all newlines in a string
=>Chèn 1 dòng ngắt HTML trước tất cả những dòng mới trong 1 chuỗi
31,number_format -- Format a number with grouped thousands
=>Định dạng 1 số với hàng nghìn chữ số

32,ord -- Return ASCII value of character
=>Trả lại giá trị ASCII của kí tự

33,parse_str -- Parses the string into variables
=>Phân tách chuỗi thành các biến số

34,print -- Output a string
=>In ra 1 chuỗi

35,printf -- Output a formatted string
=>In ra 1 chuỗi được định dạng

36,quoted_printable_decode -- Convert a quoted-printable string to an
8 bit string
=>Chuyển 1 chuỗi có thể in trích dẫn sang 1 chuỗi 8 bit.(Giải mã)

37,quotemeta -- Quote meta characters
=>Trích dẫn kí tự đặc biệt

38,rtrim -- Strip whitespace from the end of a string
=>Xoá khoảng trắng từ phần tử cuối cùng của chuỗi

39,setlocale -- Set locale information
=>Thiết lập vị trí thông tin

40,sha1_file -- Calculate the sha1 hash of a file
=>Mã hoá sha1 1 file

41,sha1 -- Calculate the sha1 hash of a string
=>Mã hoá sha1 1 chuỗi

42,similar_text -- Calculate the similarity between two strings
=>Cho số kí tự giống nhau của 2 chuỗi

43,soundex -- Calculate the soundex key of a string
=>Tính khoá chỉ âm của 1 chuỗi

44,sprintf -- Return a formatted string
=>Trả lại 1 chuỗi được định dạng

45,sscanf -- Parses input from a string according to a format
=>Phân tách chuỗi theo 1 định dạng

46,str_ireplace -- Case-insensitive version of str_replace().
=>Tương tự str_ replace().

sscanf-- Parses input from a string according to a format
->Phân tích từ loại nhập vao từ một xâu theo một định dạng

str_ireplace-- Case-insensitive version of str_replace().
->Thay thế ngược lại khi xâu đã bị thay thế bằng str_replace()

str_pad-- Pad a string to a certain length with another string
->Co một xâu tới một độ dài nào đó với một xâu khác

str_repeat--Repeat a string
->Lặp lại một xâu

str_replace-- Replace all occurrences of the search string with the replacement string
->Thay thế tất cả các biến cố của xâu tìm kiếm với một xâu thay thế

str_rot13--Perform the rot13 transform on a string
->Thực hiện mã hoá theo rot 13 trên 1 xâu

(Rot-13 :Trong các nhóm tin của mạng USENET, đây là một kỹ thuật mật mã hoá đơn giản, nó làm dịch từng ký tự đi 13 vị trí trong bảng chữ cái (cho nên e sẽ thành r). Mật mã rot- 13 được dùng cho mọi thông báo tin bất kỳ nào có thể làm mất sự thú vị của một người nào đó (như) cách giải cho một trò chơi chẳng hạn hoặc xúc phạm một số người đọc (như) bài thơ về tình dục chẳng hạn. Nếu người đọc cho giải mã thông báo tin này bằng cách phát ra một lệnh thích hợp, thì người đọc đó - chứ không phải tác giả của thông báo - sẽ phải chịu trách nhiệm đối với sự khó chịu do việc đọc thông báo gây ra.)

str_shuffle--Randomly shuffles a string
->Thay đổi một xâu bằng cách xê dịch ngẫu nhiên

str_split-- Convert a string to an array
->Đổi một xâu thành một mảng

str_word_count-- Return information about words used in a string
->Trả lại thông tin về những từ đã sử dụng trong một xâu

strcasecmp-- Binary safe case-insensitive string comparison
->So sánh xâu theo …case-insensitive.. nhị phân

strchr--Alias of strstr()
->Bí danh của strstr()

strcmp--Binary safe string comparison
->Sự so sánh xâu bằng cơ sở nhị phân

strcoll--Locale based string comparison
->Nơi diễn ra sự so sánh cơ sở

strcspn-- Find length of initial segment not matching mask
->Tìm độ dài của đoạn đầu tiên mà không tìm thấy trên bề mặt của xâu này đối với xâu kia.

strip_tags--Strip HTML and PHP tags from a string
->Loại bỏ các thẻ HTML và PHP từ một xâu

stripcslashes-- Un-quote string quoted with addcslashes()
->Loại bỏ các dấu slashe trong xâu do hàm addcslashes() tạo ra.

stripos-- Find position of first occurrence of a case-insensitive string
->Tìm ra vị trí đầu tiên của xâu này trong xâu kia của trường hợp sử lý cặp xâu.

stripslashes-- Un-quote string quoted with addslashes()
->Loại bỏ hàm addslashes(), hay nói cách khác, hàm này trả về giá trị ban đầu của xâu khi xâu bị hàm addslashes() chèn các dấu slashe ở các ký tự đặc biệt

stristr-- Case-insensitive strstr()
->Loại bỏ hàm strstr() khi trong xâu có dấu chấm.

strlen--Get string length
->Lấy độ dài của xâu

strnatcasecmp-- Case insensitive string comparisons using a "natural order" algorithm
->So sánh xâu theo thứ tự abc, các ký tự được xét từ đầu đến cuối xâu
(VD: a2>a12>a11).

strnatcmp-- String comparisons using a "natural order" algorithm
->So sánh xâu sử dụng thứ tự abc và thứ tự toán học, nhưng được tính trên toàn bộ xâu ( VD: a12 > a11>a2).

strncasecmp-- Binary safe case-insensitive string comparison of the first n characters
->Là một hàm giống như strcasecmp(), khác ở chỗ hàm này có thể chỉ rõ số ký tự trong mỗi xâu đem so sánh.


strncmp:trả ra giá trị mà xâu1 dài hơn so với sâu hai.

strpos:Tìm vì trí xuất hiện đầu tiên của một xâu này trong xâu khác.

strrchr:Tìm kiếm vị trí xuất hiện cuối cùng của một kí tự trong xâu.

strrev:Đảo ngược một xâu.

strripos:Tìm vị trí cuối cùng của xâu này khiến nó khác một xâu cho trước.

strrpos:Tìm vị trí lần xuất hiện cuối cùng cùng của một kí tự trong một xâu.

strspn:Tính xem độ dài đoạn đầu của một xâu mà chứa toàn các kí tự thuộc xâu khác.

strstr:Lấy ra một đoạn của xâu từ vị trí xuất hiện kí tự cho trước.

strtok:chia cắt xâu.

strtolower:biến kí tự chữ hoa thành chữ thường.

strtoupper:biến kí tự chữ thường thành chữ hoa.

strtr:chuyển đổi kí tự theo một qui tắc nào đó.

substr_compare:không có thông tin.

substr_count:Tính số lần xuất hiện của một xâu này trong một xâu khác.

substr_replace:thay thế một đoạn văn bản trong phạm vi một đoạn của xâu kí tự.

substr:trả ra một phần của xâu.

trim:Loại bỏ kí tự thừa(whitespace)ở đầu và cuối mỗi xâu.

ucfirst:viết hoa kí tự đầu tiên của một xâu.

ucwords:viết hoa kí tự đầu tiên của mỗi từ.

vprints:xuất ra một xâu được định dạng

vsprint:quai lại một xâu định dạng.

wordswarp:chia xâu kí tự ra thành các sâu con nhờ một kí tự xác định.
Nguồn: phpvn.org

_________________
Không có boy IT xấu
Chỉ có Boy IT không biết Photoshop thôi
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.soledad.come.vn
soledad
Admin


Nam Tổng số bài gửi : 60
Age : 27
Registration date : 18/10/2008

Bài gửiTiêu đề: tiep 14   Sun Oct 26, 2008 9:19 am

Bài 14: Các hàm do người dùng tự định nghĩa

--------------------------------------------------------------------------------

I. Xây dựng các hàm trong PHP
Trong PHP, chúng ta có thể tự xây dựng các hàm của mình. Trước khi sử dụng, chúng ta cần phải tiến hành cài đặt hàm.

Cú pháp cài đặt một hàm có thể được tóm tắt như sau:

function ten_ham (thamso1, thamso2, ..., thamson)
{
// đoạn chương trình xử lý dữ liệu bên trong hàm
return gia_tri;
}

Trong đó:

- function là từ khóa,
- ten_ham là tên hàm do chúng ta tự đặt. Tên hàm thường sử dụng các ký hiệu chữ cái, chữ số và dấu gạch dưới.
- Các thamsoi là các tham số đưa vào. Các tham số khi khai báo thường ở dưới dạng các biến, còn khi sử dụng thì có thể là biến, hằng, hay một giá trị nào đó. Một hàm có thể không có hoặc có nhiều tham số.
- Giá trị gia_tri sau từ khóa return là giá trị trả về sau khi gọi hàm. Giá trị này có thể là giá trị của một biến, hay một giá trị cụ thể nào đó.

Ví dụ: Tôi xây dựng một hàm đơn giản để trả về dòng chữ "Xin chào":
function chao()
{
return "<B>Xin chào</B>";
}

Ví dụ 2: Tôi đưa ra một hàm phức tạp hơn chút đỉnh: Khi xây dựng các ứng dụng liên quan đến CSDL, ta thường phải xuất dữ liệu ra một bảng nào đó.
Một bảng trong HTML được cấu thành từ các cặp thẻ <table>, <tr>, <td> lồng vào nhau, ở mức độ nhỏ nhất của cấu trúc trên là một ô.
Một ô có thể có chứa thông tin (nằm giữa các cặp thẻ <td></td>), có thể chứa các thuộc tính định dạng (style)... Việc ngồi gõ đi gõ lại mấy cái thẻ HTML đủ làm cho chúng ta phát chán.

Ở đây tôi sẽ xây dựng một hàm để tự động sinh ra nội dung của một ô. Hàm này có 2 tham số đầu vào dạng chuỗi là nội dung và định dạng thẻ:

<?
function viet_o ($noidung,$dinhdang)
{
$td_tmp="<td " . $dinhdang . ">" . $noidung . "</td>";
return $td_tmp;
}
?>

VD sử dụng hàm trên:
<table>
<tr>
<?viet_o("STT","");?>
<?viet_o("Họ tên","");?>
<?viet_o("Ngày sinh","");?>
</tr>
<tr>
<?viet_o("1","");?>
<?viet_o("Lê Nguyên Sinh","");?>
<?viet_o("01/04/2006","");?>
</tr>
<tr>
<?viet_o("2","");?>
<?viet_o("Thử một tí","");?>
<?viet_o("01/01/2007","");?>
</tr>
</td>

Chúng ta có thể mở rộng ra các hàm khác để xử lý cột, bảng. Hãy xem xét toàn bộ đoạn mã sau:

<?
function viet_o ($noidung,$dinhdang)
{
$td_tmp="<td " . $dinhdang . ">" . $noidung . "</td>";
return $td_tmp;
}

function viet_cot ($noidung,$dinhdang)
{
$td_tmp="<tr " . $dinhdang . ">" . $noidung . "</tr>";
return $td_tmp;
}
?>

<?
function viet_bang ($noidung,$dinhdang)
{
$td_tmp="<table " . $dinhdang . ">" . $noidung . "</table>";
return $td_tmp;
}

// Tạo một bảng tương tự ở trên nhưng dùng các hàm vừa xây dựng
$noidung = viet_cot(viet_o("STT","") . viet_o("Họ tên","") . viet_o ("Ngày sinh",""),"");
$noidung .=viet_cot(viet_o("1","") . viet_o("Lê Nguyên Sinh","") . viet_o ("01/04/2006",""),"");
$noidung .=viet_cot(viet_o("2","") . viet_o("Thử một tí","") . viet_o ("01/01/2007",""),"");
$noidung = viet_bang($noidung,"");
echo $noidung;
?>

Đoạn mã trên nhìn qua thì nó hơi dài, nhưng khi bạn xử lý với số lượng dữ liệu lớn thì nó sẽ trở nên ngắn gọn hơn nhiều, nhất là ta có thể dùng vòng lặp để duyệt qua các hàng của một bảng.
II. Các tham số mặc định và các tham số tùy chọn
Khi đưa các tham số vào hàm, chúng ta có thể thiết lập các tham số mặc định. Các tham số này được đặt giá trị ngay khi xây dựng hàm.

Ví dụ:
function viet_o ($noidung, $dinhdang="")
{
$td_tmp="<td " . $dinhdang . ">" . $noidung . "</td>";
return $td_tmp;
}

Nếu các tham số mặc định được đặt hết ở bên phải của danh sách tham số, khi triệu gọi hàm, chúng ta có thể bỏ qua các tham số mặc định này. Tuy nhiên, nếu nó nằm giữa hay bên phải thì chúng ta không được phép bỏ qua. Trong trường hợp các tham số mặc định được đặt ở bên trái, chúng ta có thể coi chúng như là các tham số tùy chọn.

Với ví dụ trên, ta có thể gọi hàm viet_o theo một trong hai cách sau:

viet_o("Thử một tí","");
họăc
viet_o("Thử hai tí");//Trường hợp này tham số tùy chọn là tham số mặc định được đặt là rỗng ở phía bên phải của danh sách tham số.
III. Phạm vi hoạt động của các biến trong và ngoài hàm
Chú ý rằng khi ta sử dụng các biến bên trong hàm, mặc định, các biến đó được coi là biến cục bộ của hàm, chứ không phải là biến toàn cục của chương trình.

Để thiết lập hoặc lấy giá trị của các biến toàn cục, chúng ta có thể sử dụng 1 trong 2 cách sau đây:
Cách 1: Dùng khai báo GLOBAL để khai báo các biến toàn cục
Cách 2: Sử dụng mảng $GLOBALS["tên_biến_toàn_cục"].

Ví dụ:
<?
$x=1;
$y=3;

function cong ()
{
return $x+$y;
}
?>

Khi ta gọi hàm cong() ở trên sẽ cho ra kết quả bằng 0 (vì $x và $y lúc này được coi là biến cục bộ và có giá trị bằng 0.

Để chương trình chạy đúng, ta phải làm như sau:

Cách 1:

<?
$x=1;
$y=3;

function cong ()
{
GLOBAL $x, $y
return $x+$y;
}
?>

Cách 2:
<?
$x=1;
$y=3;

function cong ()
{
return $GLOBALS["x"]+$GLOBALS["y"];
}
?>
Nguồn: phpvn.org

_________________
Không có boy IT xấu
Chỉ có Boy IT không biết Photoshop thôi
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.soledad.come.vn
soledad
Admin


Nam Tổng số bài gửi : 60
Age : 27
Registration date : 18/10/2008

Bài gửiTiêu đề: tiep 15   Sun Oct 26, 2008 9:19 am

Bài 15: Xử lý thư mục và tệp tin

--------------------------------------------------------------------------------

Bài viết này tập trung vào việc điều khiển hệ thống tệp tin và thư mục trên máy chủ (không phải máy khách). Bài này được chia làm các phần sau:
Phần 1: Các hàm căn bản xử lý tệp và thư mục
Phần 2: Cách thức truy xuất dữ liệu từ tệp tin.
Phần 3: Tải file lên máy chủ.

Phần I. Các hàm cơ bản để xử lý tệp và thư mục

I. Một số hàm xử lý thư mục
1. Thay đổi thư mục gốc
Để thay đổi thư mục gốc, ta dùng hàm chroot
Cú pháp:
bool chroot ( string directory)
Hàm này trả về true nếu như thư mục gốc được chuyển đổi thành thư mục có đường dẫn là directory.

2. Thay đổi thư mục hiện hành
Cú pháp:
bool chdir ( string directory)
Thay đổi thư mục hiện hành sang thư mục có đường dẫn là directory. Hàm trả về TRUE nếu thành công, ngược lại là FALSE.

3. Trả về thư mục hiện hành
Để lấy đường dẫn của thư mục hiện hành, ta dùng hàm getcwd:
string getcwd ()

4. Hiển thị danh sách các tệp và thư mục con của một thư mục nào đó:
Để làm điều này, ta dùng hàm scandir
VD:
<?php
$dir = '/source';
$files1 = scandir($dir);
print_r($files1);
?>
hơ hơ, đây chính là cách mà mấy con remview hoặc backdoor của mấy chú hacker hay sử dụng để duyệt qua các tệp và thư mục trên máy chủ đây mà

5. Tạo một thư mục mới
Để tạo một thư mục mới trên máy chủ, ta dùng hàm mkdir():
bool mkdir ( string pathname [, int mode [, bool recursive [, resource context]]])
VD:
<?php
mkdir("/uploads/images"); // tạo một thư mục images trong thư mục uploads ở thư mục gốc của website.
?>

6. Xoá một thư mục
Để xoá một thư mục mới trên máy chủ, ta dùng hàm rmdir():
bool rmdir (string pathname)

VD:
<?php
rmdir("/uploads/images"); // Xoá thư mục images trong thư mục uploads ở thư mục gốc của website.
?>

II. Một số hàm xử lý tệp tin

1. Đổi tên tệp tin:
Để đổi tên tệp tin, ta dùng hàm rename:
bool rename ( string oldname, string newname)
Hàm này sẽ cố gắng đổi tên từ oldname sang tên mới (newname). Hàm sẽ trả về TRUE nếu thành công, ngược lại là FALSE

2. Xóa tệp tin
Để xóa tên tệp tin, ta dùng hàm unlink() hoặc delete():
int unlink ( string filename)
Hàm này sẽ xóa file có đường dẫn (tên) là filename. Trả về TRUE nếu thành công, ngược lại là FALSE

3. Copy file
Để copy file, ta dùng hàm copy có cấu trúc như sau:
int copy ( string source, string dest)
Hàm này sẽ tạo ra một bản copy file nguồn (sourse) sang file đích (dest). Hàm trả về TRUE nếu thành công, ngược lại là FALSE

Ví dụ:
<?
// Tạo ra một file backup của file có tên là $file. File backup sẽ được bổ sung phần đuôi mới là .bak:
if (!copy($file, $file.'.bak')) {
print ("Lỗi copy $file...<br>\n");
}
?>

Hàm kiểm tra sự tồn tại của một file:
Khi xử lý các file, ta thường kiểm tra xem file có tồn tại hay không trước khi tiến hành các thao tác đọc, ghi dữ liệu:
Cú pháp:
bool file_exists ( string filename)
Hàm này sẽ trả về TRUE nếu thành công, ngược lại là FALSE.

Phần III. Tải file từ máy khách lên máy chủ.

Trong quá trình trao đổi dữ liệu giữa máy khách và máy chủ, tải file là một công việc rất thường gặp. Đó có thể là việc tải một file hình ảnh lên máy chủ, 1 file zip hay 1 file tài liệu bất kỳ nào đó. Sau khi đưa lên máy chủ, các file này sẽ được cung cấp liên kết để người dùng có thể tải file về sử dụng.

Cách tải file thông dụng nhất hiện nay là sử dụng giao thức FTP. Tuy nhiên, tài khoản ftp thường ít được chia sẻ vì nó liên quan rất nhiều đến hệ thống, và thường chỉ có các admin mới có được tài khoản này. Vì vậy, các trang web động thường sử dụng một cách khác để truyền tải file lên dựa vào chuần giao thức HTTP (sử dụng HTML Form).

I. Xây dựng form HTML để cho phép người dùng lựa chọn file cần tải
Quay trở lại một form trong HTML, chúng ta đã biết các thành phần căn bản của form như: tên form, các phần tử nhập dữ liệu như textarea, thẻ input, thẻ lựa chọn select - option...
Để có thể cho phép người dùng lựa chọn một file nào đó trên máy tính và tải lên, form HTML này sẽ có một cấu trúc hơi đặc biệt một chút, và có một thành phần là thẻ input với type="file".

Trước tiên, chúng ta quay trở lại với thẻ <form>

Như ở trên, chúng ta đã biết thẻ form có một số thuộc tính:
- method: Xác định kiểu truyền dữ liệu là GET hay POST. Để tải file, method bắt buộc phải có kiểu POST (vì dữ liệu trong file thường là lớn hơn những gì mà GET có thể truyền tải).
- name: Xác định tên của form (tên này có thể được dùng để truyền dữ liệu qua javascript)
- action: Xác định địa chỉ URL mà dữ liêu cần gửi tới
Để tải file, ta cần phải biết thêm một thuộc tính nữa, đó là thuộc tính enctype với giá trị là multipart/form-data.

Như vậy, để tải file, ta phải làm một form như sau:
<form enctype="multipart/form-data" action="địa_chỉ_web" method="post">
Các thành phần trong form như văn bản, hình ảnh, ô nhập liệu...
</form>

Tiếp đó, chúng ta sẽ trang bị một ô để cho phép người dùng lựa chọn file cần tải lên. Thành phần này cũng vẫn là thẻ input nhưng với type="file":
<input name="ten_phan_tu" type="file">
Khi đưa thẻ này vào, nó sẽ hiển thị một ô và nút Browse bên cạnh. Người dùng sẽ kích chuột vào nút Browse để lựa chọn file như chúng ta thường thấy.

Dưới đây là một form đơn giản chỉ chứa một ô để tải file và nút submit:

<form enctype="multipart/form-data" method="post">
Lựa chọn file cần tải: <input name="UserFileName" type="file">
<input type="submit" value="Submit">
</form>

II. Xử lý file trên máy chủ
Như vậy ta đã xây dựng được một form để cho phép người dùng chọn file. Sau khi người dùng bấm nút Submit, file sẽ được tải lên máy chủ, và được máy chủ lưu vào một thư mục tạm, đồng thời sinh ra một mảng có tên là $_FILES["tên_phần_tử_trên_form"] hoặc có một tên khác là $HTTP_POST_FILES["tên_phần_tử_trên_form"]. Việc tiếp theo là ta phải xử lý cái file đó như thế nào?

Trước tiên, chúng ta thử tìm hiểu xem cái mảng kia chứa những thông tin gì:

Với ví dụ trên, tên_phần_tử_trên_form là UserFileName (tương ứng với thẻ <input name="UserFileName" type="file">)
Như vậy khi người dùng chọn file rồi kích chọn Submit thì trình duyệt sẽ gửi file lên. Sau khi hoàn tất việc gửi file, máy chủ sẽ sinh ra một mảng có tên là $_FILES["UserFileName"].

Mảng này chứa các thông tin sau:

$_FILES['UserFileName']['name']: Tên gốc của file trên máy khách
$_FILES['UserFileName']['type']: Kiểu MIME của file (nếu trình duyệt cung cấp thông tin). Ví dụ: "image/gif".
$_FILES['UserFileName']['size']: Kích thước của file được tải tính theo byte
$_FILES['UserFileName']['tmp_name']: Tên tạm của file khi nó đã được tải và lưu trên thư mục tạm của máy chủ.

Như vậy chúng ta đã có được đầy đủ các thông tin để xử lý file. File này có thể được mở ra để lấy dữ liệu, có thể được copy vào một thư mục nào đó, hoặc bị xoá bỏ, hay đổi tên... Xin xem thêm phần I và phần II ở trên để biết các thao tác điều khiển tệp và thư mục.

Dưới đây là một ví dụ lấy từ PHP Manual:
// Đoạn mã HTML để tạo form
<form enctype="multipart/form-data" action="_URL_" method="post">
<input type="hidden" name="MAX_FILE_SIZE" value="30000" />
Send this file: <input name="userfile" type="file" />
<input type="submit" value="Send File" />
</form>

// Đoạn chương trình xử lý file đã upload:
$uploaddir = '/var/www/uploads/';
$uploadfile = $uploaddir . $_FILES['userfile']['name'];

print "<pre>";
if (move_uploaded_file($_FILES['userfile']['tmp_name'], $uploadfile)) {
print "File is valid, and was successfully uploaded. ";
print "Here's some more debugging info:\n";
print_r($_FILES);
} else {
print "Possible file upload attack! Here's some debugging info:\n";
print_r($_FILES);
}
print "</pre>";

Kỹ thuật tải các file có dung lượng lớn

Kỹ thuật tải file trình bày ở trên sẽ bị giới hạn trên nhiều phương diện: Khi tải file lớn, thời gian tải lâu sẽ gây hiện tượng script timeout, đường truyền có thể bị ngắt, nghẽn, bị giới hạn kích thước tải trong file php.ini (thường có kích thước tối đa khoảng 2 MB)...

Để tải các file có dung lượng cực lớn, chúng ta phải làm theo cách khác, thông thường, đó là sử dụng phối hợp với AJAX.

Nguyên lý của nó là: thay vì truyền cả file lớn, chúng ta sẽ chia ra thành từng phần nhỏ để gửi đi. Sau đó, trên máy chủ sẽ thực hiện việc ghép các phần nhỏ lại với nhau để cho ra một file hoàn chỉnh. Làm theo cách này sẽ cho phép tải các file dung lượng rất lớn, lại có thể theo dõi được tiến độ tải file.

Giải thuật mô phỏng đơn giản như sau:
Bước 1: Mở file trên máy khách, truy cập đến vị trí dữ liệu đã tải trước đó (nếu có)
Bước 2: Đọc một phần dữ liệu trên máy khách tính từ vị trí dữ liệu đã tải trước đó (nếu có). Đánh dấu vị trí dữ liệu đã tải
Bước 3: Chuyển phần dữ liêu đó vào một phần tử form, submit
Bước 4: Máy chủ nhận dữ liệu, mở file và ghi phần dữ liệu vào đúng vị trí trên file
Bước 5: Máy chủ yêu cầu gửi tiếp, quay lại bước 1. Nếu đã hết thì kết thúc.
Nguồn: phpvn.org

_________________
Không có boy IT xấu
Chỉ có Boy IT không biết Photoshop thôi
Về Đầu Trang Go down
Xem lý lịch thành viên http://www.soledad.come.vn
Sponsored content




Bài gửiTiêu đề: Re: Học PHP Toàn Tập   Today at 11:25 am

Về Đầu Trang Go down
 
Học PHP Toàn Tập
Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
The World Of Entertainment :: CLB Tin Học :: Thiết Kế Web :: Thiết Kế Web Dạng PHP-
Chuyển đến